ĐỐI THOẠI Cập nhật lúc 06:45, Thứ năm, 20/11/2008 (GMT+7)
Không thể giải quyết được lạm phát nếu không chịu đánh đổi
10:23, 20/8/2008 (GMT+7)

 "8 biện pháp kiềm chế lạm phát mà Chính phủ đưa ra đúng không chỉ đúng với riêng Việt Nam mà cả với thế giới bởi đó là những biện pháp chung. Vấn đề là cần có chính sách đồng bộ trong quản lý kinh tế vĩ mô và thực hiện đan xen chính sách tiền tệ và tài khóa". Đó là khẳng định của GS-TS Vũ Đình Bách, Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Kinh tế của MTTrung QuốcViệt Nam, nguyên hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế Quốc dân - về vấn đề kiềm chế lạm phát hiện nay.

GS.TS Vũ Đình Bách: "Nếu quản lý không tốt, không thể giảm được lạm phát". Ảnh: N.Dung

Quản lý của chúng ta vẫn nặng về thời bao cấp

* Theo ông, chi ngân sách của nhà nước ta hiện đã hiệu quả chưa?

- Theo nguyên tắc, ngân sách trước tiên phải dùng cho chi thường xuyên tức là chi cho bộ máy công quyền sau còn lại mới chi cho đầu tư, phát triển. Trong khi đó, chi đầu tư phát triển của ta hiện nay chiếm tới gần 50% ngân sách. Các nước khác chi tối đa thường là 40% GDP nhưng ở nước ta lại chi tới 80-90% GDP. Chúng ta đã chi ngân sách mà không tính kỹ tới hiệu quả.

Ví dụ, khi thực hiện chính sách tài khóa, có thể hạ thuế suất nhập khẩu đối với DN trong vòng 2-3 năm từ 30% xuống còn 10% để bù cho lãi suất đi vay cao, giúp DN yên tâm SX. Nếu DN lợi về cái này tức là Chính phủ chịu thiệt một chút, phải cắt giảm chi tiêu công.

* Trong các biện pháp kiềm chế lạm phát, Chính phủ áp dụng thắt chặt chi tiêu công nhưng lại chưa kiểm soát chặt chẽ đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước (DNNN).

- Chi ngân sách của Nhà nước vào các DNNN lớn nhưng càng đầu tư nhiều, càng không hiệu quả. DNNN làm ăn thua lỗ như vậy mà cứ đổ tiền vào đó thì cần phải xem lại. Hơn nữa, ngân hàng của ta chưa có sự tự chủ ở mức nhất định. Trong tư duy quản lý điều hành của ta dù đã bước sang kinh tế thị trường nhưng vẫn nặng về thời bao cấp, nhất nhất vẫn phải kinh tế quốc doanh và tập thể làm chủ.

* Chính phủ nhiều biện pháp tài chính - tiền tệ kiềm chế lạm phát. Theo ông, trước tiên phải thực thi biện pháp nào?

- Quan trọng nhất vẫn là phải thực hiện đồng bộ các giải pháp và chính sách, nhưng cái đồng bộ ấy rất khó, rất lòng vòng, luẩn quẩn... (trầm ngâm). Muốn giảm lạm phát đầu tiên phải thắt chặt tiền tệ, để mức cung tiền giảm đi, những như vậy các DN thiếu tiền sẽ rất gay go và ảnh hưởng đến sản xuất.

Còn giảm thuế, DN được lợi thì lại ảnh hưởng đến chính phủ. Ngân sách chính phủ không còn nhiều như trước nữa thì buộc phải thắt lưng buộc bụng, nhiều vị không còn được đi xe sang như trước đây nữa. Trong tình hình "đan chéo" như hiện nay, để có được một phương án hiệu quả thì khó lắm.

* Một vấn đề đặt ra là có nhất thiết lúc nào chúng ta cũng phải giữ mức tăng trưởng cao không thưa ông?

- Theo kinh nghiệm, những nước chưa phát triển, muốn bứt lên phải có một giai đoạn phát triển cao trong một vài năm, ví dụ như các nước Đông Á, liên tục duy trì mức tăng trưởng 10-12% trong gần chục năm trời. Sau khi trở thành các nước phát triển rồi thì họ không cần duy trì tăng trưởng ở mức cao quá nữa. Như Mỹ, Nhật chẳng hạn, khi đời sống dân cư đã ở mức cao, mức tăng trưởng của họ lúc đó chỉ cần vài phần trăm.

Mình là nền kinh tế đang phát triển, nếu không có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thì đời sống người dân không thể cải thiện được.

Giải quyết lạm phát: Cần tính toán mức đánh đổi thấp nhất

* Nhưng trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, việc chúng ta vừa muốn kiềm chế lạm phát nhưng cũng lại muốn duy trì tốc độ tăng trưởng, muốn thắt chặt tiền tệ, song lại muốn phát triển SX có vẻ như hơi mâu thuẫn?

- Không hề mâu thuẫn. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng 2 chính sách tiền tệ và tài khóa, không thể chỉ áp dụng một chính sách trong một thời điểm được. Vừa qua có tình trạng lạm phát lên cao khiến người gửi tiết kiệm rút tiền đổ xô đi mua vàng, làm giá vàng giá đất tăng cao. Theo lý thuyết, ngân hàng phải tăng lãi suất lên mức thực dương thì mới hút được tiền gửi của người dân, lúc đó ngân hàng mới có tiền để cho vay. Nhưng vì lãi suất tiền gửi cao nên lãi suất cho vay cũng phải cao, khiến nhiều DN lao đao, hoặc phá sản.

Lúc đó, lại phải có giải pháp tài chính hỗ trợ, ví dụ như giảm thuế cho DN. Để ổn định tình hình kinh tế hiện nay, phải có chính sách đồng bộ, có thể có 10-20 biện pháp đan chéo với nhau.

* Nhưng nếu chúng ta muốn đạt được tất cả các mục tiêu mà không chịu đánh đổi e hơi khó?

- Nguyên tắc là phải đánh đổi, nhưng có điều đánh đổi thế nào cho có hiệu quả thôi. Các nước khi có lạm phát, các nhà khoa học đưa ra không biết bao nhiêu phương án. Họ chấp nhận đánh đổi thế nào để cái giá phải trả là thấp nhất. Ví dụ muốn giữ tăng trưởng thì phải để thất nghiệp nhiều hơn, để đời sống kém hơn. Cái đánh đổi rõ nhất là anh phải giảm mức cung tiền, tức là giảm tín dụng.

* Vậy theo ông, giải quyết lạm phát của Việt Nam theo hướng nào để mức đánh đổi là thấp nhất?

- Có rất nhiều phương án đòi hỏi phải tính toán rất nghiêm chỉnh. Ví dụ như tính toán phải hi sinh cái gì - mức tăng trưởng hay thất nghiệp, hi sinh lợi ích của người dân hay DN. Đó là những bài toán cần đặt ra khi tính toán. Nhiệm vụ giải quyết lạm phát là của chính phủ chứ không phải của người dân vì người dân làm sao có biện pháp cung ứng tiền tệ để giải quyết được. Nếu quản lý không tốt, không thể giảm được lạm phát.

Để đời sống của người dân không quá khó khăn, Chính phủ phải chịu thiệt về mình. Các nước khác họ thường làm như vậy. Ở Việt Nam, một số DN đã "từ chối" xe sang, thực hiện tiết kiệm. Tư nhân đã thế thì Chính phủ cũng phải thế.

* Trung Quốc và nhiều nền kinh tế Châu Á cũng đang phải trải qua lạm phát. Chống lạm phát của Việt Nam có khác gì với Trung Quốc và các nước đó không, thưa ông?

- Họ quản lý về thị trường tốt hơn Việt Nam, họ giữ được kiềm chế, không cho đầu cơ. Thực tế, lạm phát ngoài cầu kéo, cung tiền, phí đẩy còn do tâm lý của người dân, rất dễ dẫn đến đầu cơ. Giá xăng chưa lên thì xe ôm đã nói là giá lên rồi.

Mình quản lý vẫn kém. Tôi vẫn cứ băn khoăn và lo ngại ở chỗ mình là nước xuất khẩu gạo đứng 2 thế giới mà giá gạo lại tăng lên đầu tiên, thì có vấn đề rồi. Khi giải quyết lạm phát, mình vẫn chưa nghiêng về người dân mà chỉ quan tâm đến DN, tiền tệ thôi.

"Muốn dự báo thị trường phải có sự tích lũy kinh nghiệm lâu năm" - GS. TS. Vũ Đình Bách nói. Ảnh: N.Dung

Nếu quản lý không tốt, Việt Nam có thể sẽ giống Thái  Lan năm 1997

* Ông từng cảnh báo: nếu không cẩn thận, Việt Nam sẽ rơi vào khủng hoảng tài chính như Thái Lan năm 1997?

- Đúng vậy. Khủng hoảng ở Thái Lan là khủng hoảng về tài chính - tiền tệ, liên quan đến đầu tư gián tiếp chứ không phải đầu tư trực tiếp. Bởi vì đầu tư trực tiếp là đầu tư vào máy móc, trang thiết bị, có muốn rút ra cũng không được, còn đầu tư gián tiếp là mua chứng khoán, cổ phiếu, một khi Việt Nam đã gia nhập WTO, các nhà đầu tư nước ngoài cũng có quyền mua, quyền rút ra. Họ hoàn toàn có thể dùng đầu tư gián tiếp để lũng đoạn thị trường Việt Nam. Với mức cung tiền năm 2007 của Việt Nam là 135% thì mức lạm phát lẽ ra phải cao hơn nữa, 70-80% lượng tiền vẫn chưa được tung ra. Nhiều chuyên gia kinh tế đã đặt câu hỏi: tiền đi đâu?

Nếu không cẩn thận và quản lý không tốt, tiền sẽ vào tay bọn đầu cơ quốc tế về tiền tệ thì chuyện khủng hoảng tài chính là hoàn toàn có thể xảy ra.

* Tháng 6-7 vừa rồi, khi chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng tăng chậm lại, nhiều người đã rất lạc quan. Chúng ta đã lạc quan quá sớm?

- Không hẳn. Có thể do họ nhìn nhận vấn đề đơn giản quá. Đừng chỉ nhìn vào tăng trưởng, mà không nhìn những mặt khác. Trong nền kinh tế vĩ mô có 3 chỉ tiêu quan trọng: 1 là tăng trưởng kinh tế , 2 là giá cả, 3 là công ăn, việc làm. Làm thế nào giữ được bình ổn được là tốt. Tăng trưởng đáng nhẽ chỉ có 7%, mình cố gắng đẩy nó lên thành 8-9% thì dễ xảy ra lạm phát. Trung Quốc có thời kỳ tăng trưởng nóng 18% giờ cũng phải hãm lại duy trì ở mức hài hòa vì tăng trưởng làm đời sống công nhân gay go, đình công tăng lên hàng ngàn vụ.

* Ông đánh giá thế nào về hệ thống cảnh báo và tiếp nhận cảnh báo của Việt Nam?

- Mình có dự báo nhưng chưa chuẩn. Muốn dự báo thị trường phải có sự tích lũy kinh nghiệm lâu năm, chứ không thể ngay 1 lúc mà dự báo chính xác được.

* Xin cảm ơn giáo sư!

Nguyễn Dung
(Thực hiện)