ĐỐI THOẠI Cập nhật lúc 06:41, Thứ năm, 20/11/2008 (GMT+7)
Chúng ta không thể ở đáy của hình parabol mãi
15:58, 30/6/2008 (GMT+7)

 “Cạnh tranh bằng nhân công rẻ là một cái bẫy. Lợi thế đó không thể kéo dài được và không bền được, bởi sẽ có nhiều nước khác có giá nhân công rẻ tương tự, nhất là các nước nghèo hơn Việt Nam". Đó là lời cảnh báo của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan về một vấn đề quan trọng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay.

Bà Phạm Chi Lan. Ảnh: VNN

Nhân công giá rẻ là một "cái bẫy"

* Tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam, một số nhà đầu tư vẫn kêu ca về những vướng mắc trong môi trường đầu tư của Việt Nam. Theo bà, về tổng thể, khó khăn này sẽ tác động như thế nào đến nền kinh tế ?

- Môi trường kinh doanh và đầu tư ở Việt Nam hiện nay có khó khăn hơn trước vì nền kinh tế đang phải đương đầu với khó khăn rất lớn do những bất ổn kinh tế vĩ mô, do lạm phát. Báo chí thường nói về những người nghèo bị tác động trực tiếp, nhưng chính các doanh nghiệp cũng chịu nhiều tác động lớn không kém. Tác động đối với doanh nghiệp thậm chí còn đáng lo ngại hơn vì nếu doanh nghiệp không hoạt động được nữa(giờ đây một số doanh nghiệp chỉ tính đến việc thu hẹp hoặc duy trì công việc hiện nay thôi chứ không dám nghĩ đến phát triển) thì sẽ kéo theo rất nhiều người lao động đang làm việc trực tiếp hoặc gián tiếp cho doanh nghiệp cũng khốn đốn.

Thực ra những cơ hội lớn cho doanh nghiệp nước ta trong việc gia nhập WTO vẫn còn đấy. Kinh nghiệm một số nước gia nhập WTO cho thấy rằng 3-5 năm đầu tham gia WTO là thời điểm quan trọng nhất để vượt qua thách thức, khai thác cơ hội, đưa nền kinh tế đi lên. Doanh nghiệp nước ta đã đi qua một năm đầu tiên với những thành công khá tốt, nên có thể vươn lên hơn nữa. Nhưng nếu khó khăn hiện nay kéo dài làm cho cơ hội mới này không khai thác được tốt thì sau này muốn bật lên sẽ vất vả hơn nhiều.

* Khi gia nhập WTO, mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam bị đánh giá là rất kém...

- Nhìn chung năng lực cạnh tranh của Việt Nam vốn dĩ đã thấp rồi, khi tham gia WTO, thách thức này càng lớn. Không chỉ thông qua các chỉ số đánh giá của bên ngoài mà bản thân nhiều doanh nghiệp cũng tự nhận thấy sự yếu kém trong năng lực cạnh tranh của mình. Trong bối cảnh kinh tế hiện nay khi cạnh tranh quốc tế ngày càng quyết liệt, năng lực cạnh tranh đó càng bị đe dọa nhiều hơn.

* Và như đã nói, thì lợi thế về giá nhân công rẻ của Việt Nam cũng không còn nữa ?

- Đúng vậy. Trước đây, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực này cũng đã cảnh báo rằng cạnh tranh bằng nhân công rẻ là một cái bẫy. Lợi thế đó không thể kéo dài được và không bền được. Đơn giản nhất là sẽ có nhiều nước khác có giá nhân công rẻ như thế, nhất là các nước nghèo hơn Việt Nam. Rất nhiều nước khác có tình trạng dư thừa lực lượng lao động nhân công giá rẻ, chứ không riêng chỉ Việt Nam. Hai nữa, nó là cái bẫy ở chỗ nó dễ làm người lao động và xã hội hài lòng rằng: "À, mình cũng sống được", do vậy không có khát vọng và nỗ lực vươn lên nữa.

Thời gian qua ta đã để kéo dài rất lâu tình trạng làm gia công. Những ngành công nghiệp gọi là thành công ở Việt Nam như dệt may, da giày đã làm gia công đến mười mấy năm. Trong khi những nước và lãnh thổ hóa rồng như Hàn Quốc và Đài Loan, thời kỳ đầu người ta cũng làm gia công nhưng chỉ khoảng 3-5 năm. Sau đó, người ta bứt lên và trở thành người chủ động cung cấp hoặc đi đặt hàng các nước khác, chứ không làm gia công kéo dài mãi.

Cũng với lợi thế về nhân công giá rẻ, chúng ta thu hút được nhiều dự án FDI vào những lĩnh vực sử dụng nhiều lao động, và hài lòng với kết quả đó mà không nỗ lực đào tạo kỹ năng cho những người lao động trẻ để có thể làm những công việc đòi hỏi tay nghề cao hơn. Bây giờ khi FDI công nghệ cao vào thì ta thiếu nghiêm trọng lao động có kỹ năng.

Khi ta xuất khẩu lao động cũng lại là xuất khẩu lao động giá rẻ, kỹ năng thấp, như đưa phụ nữ đi làm giúp việc ( hay vẫn gọi là đi làm “Osin”) ở các nước, hay đưa nam giới trẻ từ nông thôn đi làm công việc nặng nhọc mà ở nơi đó người địa phương không làm. Ta mừng về số lượng người lao động đi làm việc ở nước ngoài tăng lên hàng năm, nhưng chưa biết buồn vì chỉ cung cấp được những loại lao động rẻ mạt là chính, trong khi các nước khác như Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines xuất khẩu lao động chất lượng cao và thu nhập cao hơn ta nhiều lần.

Ngành giáo dục - đào tạo của Việt Nam thường bị phê phán là chưa đáp ứng được yêu cầu cung ứng nhân công có kỹ năng, một phần quan trọng do những vấn đề trong ngành đó, một phần cũng vì nhu cầu kinh tế-xã hội chưa đủ tạo sức ép mạnh do sớm thỏa mãn với thành công ban đầu nhờ lợi thế nhân công giá rẻ.

* Liệu đáng lo đến mức nào khi Việt Nam vẫn tiếp tục trở thành nơi gia công cho một số nước khác như Hàn Quốc và ngay cả Trung Quốc nữa, mà gia công thì ít có chuyện đầu tư chất xám, thưa bà ?.

- Cần hiểu nguyên lý chuỗi giá trị. Khi tham gia hội nhập quốc tế, chúng ta là một bộ phận của nền kinh tế toàn cầu thì phải cố gắng trở thành bộ phận tốt trong chuỗi giá trị đó. Lâu nay mình tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ở cái đáy của hình parabol: lắp ráp và làm gia công các sản phẩm, giá trị gia tăng thấp, chứ chưa vươn lên được hai cánh của hình parabol, nơi tạo được giá trị gia tăng cao, với những hoạt động như thiết kế, tạo ra các mẫu mã mới, sản xuất các bộ phận, linh kiện của sản phẩm hoặc tham gia vào các khâu phân phối, xây dựng thương hiệu... Đáy của hình parabol dùng nhiều lao động giá rẻ, trong khi hai cánh đòi hỏi lao động có kỹ năng cao, chất xám.

Nếu mình không vươn lên được thì các nhà đầu tư nước ngoài cũng chỉ tham gia đầu tư ở mức độ nhất định mà thôi. Như các doanh nghiệp Nhật Bản, từ rất lâu họ đã kêu mình không có ngành công nghiệp phụ trợ khiến họ phải mang toàn bộ nguyên liệu, phụ kiện, bộ phận nhập khẩu từ bên ngoài vào khiến giá thành bị đội lên. Nếu mình không cải thiện khâu đó, thì vừa mất cơ hội phát triển một số lĩnh vực công nghiệp, vừa không đóng góp được cho FDI và thu lợi từ đó, vừa bị lạc hậu mãi.

Doanh nghiệp cần sự ổn định chính sách

* Đi công tác nhiều ở nước ngoài, bà thấy thích nhất điểm gì ở môi trường đầu tư nước ngoài?

- Điểm ưu việt của họ trước hết là môi trường pháp lý và chính sách minh bạch, ổn định. Thái Lan và Ý là hai nước thay đổi chính phủ liên tục. Ý là nước mà sau chiến tranh thế giới thứ hai, cứ gần như bình quân mỗi năm có một chính phủ mới, Thái Lan cũng thay đổi chính phủ nhiều lần. Song ở cả hai nước này, chính phủ thay đổi, nhưng những chính sách kinh tế cơ bản thì không. Những người mới lên thường chỉ thay đổi một số chính sách cụ thể về kinh tế cho phù hợp với yêu cầu mới của sự phát triển, và thay đổi theo hướng tốt hơn. Có thế họ mới tồn tại, đứng vững và phát triển được.

Ngoài chính sách minh bạch, ổn định, bộ máy làm việc cơ bản ở các nước cũng ổn định. Ở các bộ chẳng hạn, chỉ có các Bộ trưởng là thay đổi theo chính phủ, còn cấp Thứ trưởng trở xuống là những nhà kỹ trị, họ làm chuyên môn. Khi chính phủ này xuống, chính phủ kia lên thì họ vẫn cứ ở đó vì đã qua quá trình sàng lọc, đã chứng tỏ được năng lực của mình. Chính sách, bộ máy như vậy thì mới duy trì được hệ thống làm việc, các doanh nghiệp mới hoạt động được thuận lợi.

* Vậy nhìn lại cơ chế chính sách của nước ta, theo bà bất cập nhất là gì ?

Mình thì chính trị ổn định nhưng chính sách vẫn thiếu minh bạch và thiếu ổn định. Ổn định chính trị là vô cùng quan trọng, song nền kinh tế và các doanh nghiệp rất cần sự ổn định về chính sách để có môi trường phát triển.

Chính sách và luật pháp của các nước được thiết kế trên cơ sở của thể chế thị trường đã hình thành nên tương đối hoàn thiện, minh bạch, ổn định. Từ đó, tạo nên môi trường cạnh tranh bình đẳng thực sự. Tất nhiên bình đẳng chỉ là sự tương đối thôi, nhưng sẽ theo hướng doanh nghiệp nào giỏi thì phát triển lên, còn doanh nghiệp kém cỏi phải chấp nhận phá sản, nhường chỗ cho người khác. Không thể hỗ trợ duy trì những doanh nghiệp yếu kém, không có năng lực cạnh tranh, gây bất lợi cho nền kinh tế.

Luật pháp và chính sách của ta vẫn đang trong quá trình chuyển đổi theo nền kinh tế thị trường định hướng XHCN cho nên nó vẫn còn có những cái chưa hoàn thiện, chưa thật rõ ràng. Phần lớn luật của ta thiếu tính minh bạch, chỉ đưa ra cái khung, lại còn phụ thuộc vào các nghị định, thông tư, hướng dẫn của chính phủ, và của các cấp. Thế nhưng nếu càng có nhiều văn bản “nhánh” để thực hiện luật, thì càng dễ làm cho luật kém minh bạch, thiếu nhất quán trong thực hiện.

* Xin cảm ơn bà!

Nguyễn Dung
thực hiện

Đặng - dangtran.phuong@gmail.com

Bài viết của bà Phạm Chi Lan rất ấn tượng. Nhưng tại sao những nhà kinh tế lại sử dụng toán học một cách thiếu thuyết phục như vậy. Khi nói đến Parabol tại sao lại luôn nghĩ đến đáy nằm ở dưới mà không nghĩ đáy ở trên. Và toán học thì có khái niệm vô cùng, nhưng cuộc sống của con người là hữu hạn và chúng ta đang chứng kiến giới hạn đó trong lĩnh vực vật lý.

Thế nên khi khảo sát sự phát triển, không nên so sánh Parabol như vậy, hai cánh của Parabol đó nói lên rằng đó là sự phát triển không có giới hạn. Điều kỳ lạ là ngay cả TS Vũ Minh Khương cũng sử dụng đường cong tương tự để so sánh. Sự phát triển không thể đi theo đường Parabol được. Nó đi theo đường cong khác mà rõ ràng hệ số góc ở các điểm càng cao (theo suy nghĩ của bà Phạm Chi Lan) thì càng nhỏ mới hợp lý. Xin chia sẻ để mọi người cùng suy nghĩ.

dang van tuyen - tuyendang@ptsc.com.vn

Cần hiểu nguyên lý chuỗi giá trị. Khi tham gia hội nhập quốc tế, chúng ta là một bộ phận của nền kinh tế toàn cầu thì phải cố gắng trở thành bộ phận tốt trong chuỗi giá trị đó. Lâu nay mình tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ở cái đáy của hình parabol: lắp ráp và làm gia công các sản phẩm, giá trị gia tăng thấp, chứ chưa vươn lên được hai cánh của hình parabol, nơi tạo được giá trị gia tăng cao, với những hoạt động như thiết kế, tạo ra các mẫu mã mới, sản xuất các bộ phận, linh kiện của sản phẩm hoặc tham gia vào các khâu phân phối, xây dựng thương hiệu...

Đáy của hình parabol dùng nhiều lao động giá rẻ, trong khi hai cánh đòi hỏi lao động có kỹ năng cao, chất xám. Nếu mình không vươn lên được thì các nhà đầu tư nước ngoài cũng chỉ tham gia đầu tư ở mức độ nhất định mà thôi. Như các doanh nghiệp Nhật Bản, từ rất lâu họ đã kêu mình không có ngành công nghiệp phụ trợ khiến họ phải mang toàn bộ nguyên liệu, phụ kiện, bộ phận nhập khẩu từ bên ngoài vào khiến giá thành bị đội lên. Nếu mình không cải thiện khâu đó, thì vừa mất cơ hội phát triển một số lĩnh vực công nghiệp, vừa không đóng góp được cho FDI và thu lợi từ đó, vừa bị lạc hậu mãi.