BÀN VÀ LUẬN Cập nhật lúc 01:01, Thứ ba, 02/12/2008 (GMT+7)
Cải cách giáo dục
10:10, 31/8/2008 (GMT+7)

 - Cuộc thảo luận về cải cách giáo dục ở nước ta hiện nay dù chưa đến hồi kết thúc và cũng chưa đi đến đồng thuận về các quan điểm cơ bản nhưng có một điều chắc chắn có thể được khẳng định là sự nghiệp giáo dục đào tạo cần phải đổi mới, cải cách triệt để nhằm trước hết phát huy tiềm năng con người Việt Nam trong cuộc cạnh tranh toàn cầu của hiện tại và tương lai.

Quả thực, nền giáo dục nước ta là lĩnh vực đổi mới chậm nhất so với các khu vực thể chế khác.

Trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, mặc dù cũng có sự tụt hậu và thua kém về năng lực cạnh tranh nhưng về cơ bản các doanh nghiệp trong các khu vực sản xuất đã chuyển đổi được cơ chế quản lý thích nghi với cơ chế thị trường. Có rất nhiều doanh nghiệp sau 20 năm đổi mới đã sống được trong cơ chế mới, có sức cạnh tranh trên thị trường nội địa và từng bước vươn ra thị trường thế giới.

Trong khi đó, các cơ sở giáo dục - đào tạo của nước ta vẫn mang nặng cơ chế bao cấp; còn sản phẩm giáo dục, đặc biệt là sản phẩm cuối cùng của nó ở các cấp học phổ thông, đại học, trên đại học chưa biết đến bao giờ mới đạt được trình độ khu vực, càng chưa thể nghĩ đến trình độ quốc tế. Người thụ hưởng trực tiếp ở đây là học sinh vẫn ngơ ngác trước một hệ thống giáo dục không biết lấy thầy làm trung tâm hay trò làm trung tâm, học kiến thức nhồi nhét cho đủ hành trang theo ý thầy hay học kỹ năng làm người, làm thợ, làm kỹ sư để có năng lực xử lý các tình huống thực tế.

Còn người thầy - những máy cái của công nghệ giáo dục - vừa bị áp lực nâng cao chất lượng giảng dạy, giữ đúng phẩm chất đạo nghề nghiệp, vừa phải đấu tranh với thực tế thu nhập chính thức chỉ bằng 1/3, thậm chí 1/5 mức thu nhập của các ngành khác. Hơn nữa, trong rất nhiều cơ sở giáo dục - đào tạo, người thầy còn bị tước mất quyền sáng tạo khi bắt buộc phải dạy theo giáo trình, thậm chí trong đánh giá học viên, người thầy còn bị tước đi quyền đánh giá của mình (do các áp lực của quản lý hoặc của xã hội).

Đã có rất nhiều hội nghị, hội thảo, rất nhiều ý kiến, nhiều chương trình thí điểm đã được thực hiện, nhưng dường như lối ra cho cải cách giáo dục vẫn chưa rõ. Trong khi đó, hàng năm hệ thống vẫn phải tiếp nhận gần 1 triệu em đến tuổi đi học, gần 1 triệu em kết thúc bậc học phổ thông để chuyển sang các bậc học nghề hoặc đại học... Mô hình "trường điểm" đã thất bại do tính không phổ biến được của nó; rồi mô hình "xã hội hóa" cũng không thể giải quyết được các mục tiêu của hệ thống do tính mập mờ của mô hình và thiếu hẳn các biện pháp tổ chức cụ thể. Vậy trong những năm tới hệ thống giáo dục phải làm gì?

Câu trả lời tất nhiên không hề đơn giản, càng không thể chỉ dựa vào một đề án cải cách nào đó dù của cá nhân hay một cơ quan quản lý có trách nhiệm nhất là Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc cải cách giáo dục chắc chắn phải là công việc của toàn xã hội và cần sự nỗ lực đóng góp của toàn xã hội, trong đó, vai trò của Chính phủ với sự giúp việc của Bộ Giáo dục và Đào tạo có vai trò trụ cột.

Trước hết, cần khẳng định những quan điểm thuộc về triết lý giáo dục. Đây là công việc của Chính phủ với sự tư vấn của Hội đồng Giáo dục quốc gia. Triết lý giáo dục phải đáp ứng được yêu cầu hiện đại, tiên tiến, phù hợp với dân tộc.

Mô hình đào tạo: chắc chắn phải chấp nhận mô hình liên thông với sự đa dạng về hình thức đầu tư các cơ sở giáo dục - đào tạo, đa dạng các nguồn tài chính trên cơ sở trao mạnh quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục - đào tạo cả về tổ chức, tài chính, sử dụng cán bộ.

Mô hình quản lý của Nhà nước: Bộ Giáo dục và Đào tạo phải thu hẹp rất nhiều chức năng, cắt bỏ rất nhiều công việc khi trao quyền tự chủ cho các cơ sở (giống như bước chuyển đổi của các ngành khác), trong khi đó, Bộ phải tăng cường và nâng cao chất lượng các công việc thuộc chức năng của mình như ban hành thể chế, kiểm tra, giám sát thông qua hệ thống thanh tra giáo dục, khảo thí, kiểm định chất lượng đầu ra, kiểm tra tuân thủ quy trình... Khi mà Bộ Giáo dục và Đào tạo vẫn còn trực tiếp tổ chức thi tuyển đầu vào cho các trường đại học, khi mà lãnh đạo cao cấp của Bộ này còn phải trực tiếp kiểm soát từng luận án tiến sỹ thay cho các cơ sở đào tạo thì không thể nói đến tính hợp lý và hiệu quả của mô hình quản lý mới.

Các trường phải được tổ chức lại trên cơ sở phát huy quyền tự chủ về kế hoạch, tổ chức, tài chính, sử dụng nhân lực. Cơ chế thi tuyển hoặc bầu chọn hiệu trưởng chắc chắn phải được áp dụng rộng rãi kèm theo việc trao quyền rộng rãi cho hiệu trưởng.

Đội ngũ giáo viên chắc chắn cần phải được tiêu chuẩn hóa, thanh lọc lại, được hưởng một cơ chế làm việc đích thực tiên tiến, được hưởng chế độ đãi ngộ về vật chất và tinh thần thỏa đáng. Việc tuyển dụng giáo viên, bổ nhiệm các chức vụ học thuật như  Giáo sư, Phó giáo sư chắc chắn phải giao về cho các cơ sở đào tạo, bỏ cách tuyển dụng, bổ nhiệm tập trung theo kiểu công chức như hiện nay.

Các doanh nghiệp, cơ sở, tổ chức sử dụng sản phẩm của hệ thống giáo dục - đào tạo cũng phải đổi mới triệt để trong việc tuyển dụng, sử dụng người lao động trên cơ sở công khai, minh bạch, trọng dụng người tài. Tác động của việc sử dụng người lao động sau khi tốt nghiệp ra trường là rất lớn, nhiều khi có ý nghĩ quyết định đến việc dạy và học như thế nào trong các cơ sở đào tạo.Trong trường hợp ngược lại, nếu không có chuẩn mực và công bằng trong khâu tuyển dụng, sử dụng sau khi ra trường thì mọi nỗ lực cải cách của hệ thống giáo dục trở thành không có tác dụng. 

PGS, TS  Kim Văn Chính