Ý thức của người dân và quản lý nhà nước
10:13, 29/4/2008 (GMT+7)
(Lanhdao.net) - Gần đây, cụm từ “ý thức của người dân” hay được nhắc đến khi đề cập đến nguyên nhân của ách tắt và tai nạn giao thông, của vệ sinh an toàn thực phẩm thấp kém, của sự lan truyền bệnh dịch tả và tiêu chảy cấp tính, của tệ nạn học sinh bỏ học… Dưới góc độ quản lý nhà nước, điều này cần được phân tích sâu hơn.

GS. TSKH Nguyễn Ngọc Trân

1. Trong lĩnh vực giao thông, quan sát nhiều tuyến đường ở Hà Nội và ở Thành phố Hồ Chí Minh vào những giờ cao điểm, sẽ thấy xe máy chạy nườm nượp trên vĩa hè, đủ chiều! Việc đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy ở các nước đương nhiên bao nhiêu thì ở nước ta sao lại khó khăn và trầy trật đến thế! Bản cấm chạy ngược chiều và bản nhắc nhở phải đội mũ bảo hiểm … ở nước ta sao lại chẳng có hiệu lực gì đối với một số không ít người đến vậy! Trong điều kiện đó, ách tắt giao thông, số người chết vì tai nạn giao thông không giảm là hiển nhiên. Nhưng nguy hiểm và hậu quả còn đáng sợ hơn nữa bởi lẽ những hành vi xem thường pháp luật ở người lớn hôm nay sẽ lây nhiễm sang thế hệ mai sau và có nguy cơ được xem là điều bình thường!

Chính vì vậy, điều trần của Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng và chất vấn ở phiên họp thứ 8 của UBTVQH vừa qua về tình trạng an toàn giao thông và ách tắt giao thông tại hai thành phố lớn sẽ đi bên cạnh một nguyên nhân cốt lõi nếu đề cập đến ý thức của người dân như là một “chuyện biết rồi, nói mãi” mà không kiểm điểm một cách sâu sắc trách nhiệm của Nhà nước đến đâu, Chính phủ đã làm gì và sẽ phải làm gì để từ đó đề ra giải pháp căn cơ.

2. Trình độ của ý thức về an toàn giao thông phụ thuộc trước tiên vào trình độ phát triển kinh tế và hạ tầng cơ sở kinh tế - xã hội. Ý thức về an toàn giao thông của người dân ở thời kỳ đi xe máy phải khác với thời kỳ đi xe đạp, và càng phải khác hơn khi ngày càng nhiều xe ô-tô tham gia giao thông. Đáng tiếc là nhiều người đã “chuyển lên” lái xe máy, lái ô-tô nhưng vẫn giữ phản xạ và tập quán của người điều khiển xe đạp, hiểu biết về an toàn giao thông chưa kịp thay đổi, cộng thêm không ít tệ nạn “mua bằng lái”.

Trình độ của ý thức còn phụ thuộc vào ba yếu tố: trình độ dân trí, ý thức về trách nhiệm và nghĩa vụ công dân, và những ràng buộc của một xã hội văn minh trong thời buổi hội nhập kinh tế quốc tế. Có thể khẳng định ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh, hầu hết những người vi phạm luật giao thông không phải là những người có dân trí thấp. Họ vi phạm vì họ xem thường trách nhiệm và nghĩa vụ công dân và phớt lờ luật pháp.

3. Nhưng dưới góc độ quản lý nhà nước, dừng lại ở nhận định ý thức của người dân là nguyên nhân chưa đủ. Với tinh thần tự trách mình trước, Nhà nước phải tự hỏi đã làm gì trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp; đã làm đúng mức chưa trên cả hai mặt giáo dục và xử lý vi phạm, để ý thức của người dân về an toàn giao thông có những chuyển biến kịp và cần thiết trước những thay đổi khách quan mới. Báo cáo của Chính phủ do Bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng tường trình và báo cáo giám sát của UBTVQH đáng lý phải làm rõ và đầy đủ hơn nội dung này.

Phải nói rằng có phần trách nhiệm không nhỏ của quản lý nhà nước về ý thức tôn trọng luật pháp của người dân. Gần đây, bên cạnh việc thực thi luật pháp chưa nghiêm, có khá nhiều văn bản pháp quy trong lĩnh vực giao thông vận tải vừa ban hành xong đã sửa đổi hoặc hoãn thi hành hoặc thi hành mỗi nơi một cách. Thậm chí đối tượng điều chỉnh được hiểu không thống nhất. Tình trạng này làm rối và hạ thấp kỷ cương phép nước và vô hiệu hóa lời kêu gọi người dân hãy “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”. Thử hỏi cơ quan ban hành những văn bản như thế có đáng bị chế tài thích đáng hay không?

Mỗi văn bản pháp quy đều ít nhiều tác động đến cả xã hội, hơn nhiều các dự án đầu tư. Không thể ban hành vội vã, thiếu chín chắn để rồi phải sửa đổi, hoãn thi hành, ... Vì vậy, xin kiến nghị các dự thảo văn bản pháp quy đều phải có báo cáo dự báo tác động lên xã hội; cơ quan có thẩm quyền không ban hành văn bản nếu không có kèm theo báo cáo này làm nghiêm túc và khoa học.

Về phía Quốc hội, thiết nghĩ các cơ quan của Quốc hội cần tăng cường việc giám sát các văn bản pháp quy dưới luật và pháp lệnh. Cần tự xét xem mình có đủ điều kiện và khả năng để hoàn thành nhiệm vụ hiến định này hay không, nếu không, phải có cách giải quyết, kể cả sửa đổi Luật Tổ chức Quốc Hội và nếu cần cả Hiến pháp, bởi lẽ không thể bỏ trống mặt trận này.

3. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, là ý thức trách nhiệm của người dân trước những vấn đề hệ trọng của đất nước. Chính phủ cần lắng  nghe và đề cao ý thức trách nhiệm này. Quốc hội cân nhắc thật kỹ, chưa vội thông qua mọi vấn đề hệ trọng của đất nước chừng nào tờ trình về vấn đề đó chưa giải đáp được các băn khoăn có cơ sở của cử tri, của các đại biểu dân cử về các tác động của vấn đề. Việc mở rộng Thủ đô Hà Nội là một ví dụ thời sự. Liệu Sau khi Hà Nội được mở rộng, việc đầu tiên (chính quyền) Hà Nội phải làm là cùng Bộ Xây dựng chủ trì lập qui hoạch chung” có phải là cách làm đúng thể hiện sự tôn trọng ý kiến của dân?      

4. Thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây cũng như thành tựu trong công cuộc đổi mới hiện nay đều là sự nghiệp của dân bởi lẽ dân là gốc. Bàn về mối quan hệ giữa ý thức của người dân và quản lý nhà nước là trở về với hai câu thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Chuyện dù nhỏ, không dân cũng chịu, Khó trăm bề, dân liệu cũng xong”, mà mọi người trong hệ thống chính trị nước ta cần nhớ và thực hiện.

GS.TSKH. Nguyễn Ngọc Trân

Bài gốc: http://lanhdao.net/vn/tieudiem/banluan/123209/index.aspx