Sự vươn lên của Trung Quốc và tương lai của phương Tây - Phần 1
09:40, 18/3/2008 (GMT+7)

Trên tạp chí Đối ngoại, Giáo sư John Ikenberry cho rằng: Sự cất cánh của Trung Quốc chắc chắn sẽ đưa vị thế đơn cực của Hoa Kỳ đi tới hồi kết. Nhưng điều đó không nhất thiết phải là một cuộc chiến tranh giành quyền lực hay là sự đổ vỡ của hệ thống Phương Tây. Trật tự quốc tế do Hoa Kỳ dẫn đầu vẫn có thể tiếp tục chi phối thậm chí ngay cả khi hội nhập thêm một thành viên đầy quyền lực là Trung Quốc – nhưng chỉ khi Washington bắt tay vào củng cố hơn nữa hệ thống tự do này ngay bây giờ.

Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào bắt tay Tổng thống Mỹ George W.Bush: Trung Quốc đang vươn lên ngày càng mạnh mẽ về kinh tế và quân sự trong trật tự mà Mỹ là trung tâm. Ảnh: ChinaDaily

Sự vươn lên của Trung Quốc chắc chắn một trong những kịch bản lớn nhất của thế kỷ 21. Tăng trưởng kinh tế thần kỳ và chính sách đối ngoại chủ động của Trung Quốc đã và đang làm biến đổi Đông Á, và trong những thập kỷ tiếp theo thậm chí thế giới sẽ còn được thấy sự tăng cường hơn nữa về quyền lực và tầm ảnh hưởng của Trung Quốc. Nhưng chính xác thì kịch bản này sẽ diễn ra như thế nào thì vẫn là một câu hỏi mở. Liệu Trung Quốc sẽ phá vỡ trật tự đang tồn tại hay sẽ trở thành một phần của trật tự đó? Và nếu có thì Mỹ có thể làm gì để duy trì vị thế của mình trước một Trung Quốc đang ngày càng lớn mạnh?

Một số nhà quan sát cho rằng kỷ nguyên của Hoa Kỳ đang dần kết thúc, và trật tự thế giới nghiêng về phương Tây đang dần bị thay thế bởi một trật tự do phương Đông thống trị. Nhà sử học Niall Ferguson đã viết rằng thế kỷ hai mươi đẫm máu đã chứng kiến “sự xuống dốc của Phương Tây” và “sự thay đổi quan điểm của thế giới” hướng về phương Đông. Những người theo thuyết duy thực vẫn tiếp tục nhấn mạnh rằng khi Trung Quốc nắm trong tay nhiều quyền lực hơn và vị thế của Hoa Kỳ yếu dần đi, thì có hai điều chắc chắn sẽ xảy ra: Trung Quốc sẽ cố gắng sử dụng tầm ảnh hưởng ngày càng mạnh để định hình lại những quy tắc và thể chế của hệ thống quốc tế nhằm phục vụ tốt hơn cho những lợi ích của họ, và các quốc gia khác trong hệ thống – đặc biệt là những cường quốc bá chủ một thời – sẽ bắt đầu coi Trung Quốc như một mối quan ngại an ninh đang lớn dần.

Họ cũng dự đoán rằng kết quả của quá trình phát triển này là tình trạng căng thẳng, ngờ vực và xung đột - những đặc điểm điển hình của quá trình chuyển đổi quyền lực. Trong viễn cảnh đó, kịch bản về sự vươn lên của Trung Quốc sẽ khắc hoạ một Trung Quốc ngày càng hùng mạnh và một Hoa Kỳ đang tụt dốc và kẹt trong một trận chiến thiên anh hùng ca trước những quy tắc và vai trò lãnh đạo hệ thống quốc tế. Và khi quốc gia lớn nhất thế giới nổi lên không phải từ bên trong mà là từ bên ngoài trật tự quốc tế đã được thiết lập sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, thì đó là một màn kịch sẽ kết thúc với quyền lực vĩ đại của Trung Quốc và sự khởi đầu hoành tráng của một trật tự thế giới mà châu Á là trung tâm.

Tuy nhiên quá trình trên không phải là không thể tránh khỏi. Sự cường thịnh của Trung Quốc không nhất thiết phải gây ra sự chuyển đổi quyền lực méo mó. Chuyển đổi quyền lực giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể rất khác so với những lần chuyển đổi trong quá khứ, bởi vì Trung Quốc đang phải đối mặt với một trật tự quốc tế khác biệt về căn bản so với trật tự mà các quốc gia từng ở vị trí như Trung Quốc phải đối mặt trước đây. Trung Quốc không chỉ phải đối mặt với Hoa Kỳ; mà còn phải đối mặt với một hệ thống lấy phương Tây làm trung tâm, mở, hội nhập, có nguyên tắc, với những nền tảng chính trị sâu rộng. Trong khi đó cuộc cách mạng hạt nhân đã khiến cuộc chiến giữa những đế quốc hùng mạnh sẽ không xảy ra – loại bỏ công cụ chính mà các cường quốc đang lên từng sử dụng để đảo lộn những hệ thống quốc tế nằm dưới sự che chắn của những cường quốc vang bóng một thời. Tóm lại, trật tự Phương Tây ngày nay rất khó phá vỡ nhưng lại dễ gia nhập.

Bản thân cái trật tự tồn tại một cách bất thường và đang mở rộng này chính là sản phẩm của đường lối lãnh đạo Hoa Kỳ nhìn xa trông rộng. Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, Hoa Kỳ không chỉ đơn giản tạo lập cho bản thân trở thành một cường quốc quyền lực hàng đầu. Quốc gia này còn dẫn đầu quá trình xây dựng những thể chế chung không chỉ lôi kéo sự góp mặt của các thành viên toàn cầu mà còn đưa chế độ dân chủ và xã hội thị trường lại gần nhau hơn. Hoa Kỳ đã xây dựng lên một trật tự thúc đẩy sự tham gia và hội nhập của cả những cường quốc lão làng và cả những quốc gia độc lập non trẻ. (Người ta thường quên mất rằng trật tự trong thời hậu chiến này được tạo ra với mục đích chính là để khôi phục lại trục Berlin - Rome - Tokyo bại trận và để đưa khối các quốc gia Liên minh đang bị bao vây vào một hệ thống quốc tế thống nhất). Ngày nay, Trung Quốc có thể tiếp cận và phát triển thịnh vượng trong hệ thống này. Và nếu như vậy, Trung Quốc sẽ cất cánh, còn trật tự Phương Tây, nếu điều phối hợp lý, sẽ tiếp tục tồn tại.

Khi phải đối mặt với một Trung Quốc đang lên, Hoa Kỳ cần phải ghi nhớ rằng vai trò lãnh đạo của họ trong trật tự phương Tây cho phép bản thân quốc gia này thiết lập nên một môi trường trong đó Trung Quốc sẽ thực hiện sự lựa chọn chiến lược then chốt. Nếu muốn gìn giữ được vai trò lãnh đạo này, Hoa Kỳ cần phải củng cố các quy tắc và thể chế là cơ sở cho trật tự này – làm cho nó trở lên dễ hòa nhập hơn nhưng khó phá bỏ hơn. Chiến lược quan trọng này của Hoa Kỳ cần phải được xây dựng dựa trên phương châm “Đường tới phương Đông phải đi qua phương Tây”. Hoa Kỳ cần phải nhấn chìm gốc rễ của trật tự này càng sâu càng tốt, làm cho Trung Quốc có động lực gia nhập lớn hơn là phá bỏ và làm tăng cơ hội “sống sót” cho hệ thống dù quyền lực của Hoa Kỳ đang dần bị suy giảm.

“Vị thế đơn cực” của Hoa Kỳ sẽ kết thúc là điều không thể tránh khỏi. Nếu cuộc chiến nổi bất của thế kỷ 21 là giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, thì Trung Quốc sẽ có lợi thế. Nếu cuộc chiến nổi bật của thế kỷ 21 là giữa Trung Quốc và một hệ thống phương Tây được khôi phục, thì Phương Tây sẽ chiến thắng.

NHỮNG QUAN NGẠI CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ

Trung Quốc đang vững bước trên con đường trở thành một cường quốc hùng mạnh toàn cầu. Quy mô của nền kinh tế quốc gia này đã tăng gấp bốn lần kể từ khi cải cách thị trường bắt đầu vào cuối những năm 1970, và theo như ước tính, còn có thể tăng gấp đôi trong thập kỷ tới. Trung Quốc đã trở thành một trong những trung tâm sản xuất chính trên thế giới và tiêu thụ xấp xỉ một phần ba nguồn cung sắt, thép và than toàn cầu. Quốc gia này đã tích lũy được một lượng dự trữ ngoại hối khổng lồ, trị giá hơn 1 nghìn tỉ USD vào thời điểm cuối năm 2006. Chi dùng cho quân đội Trung Quốc đã tăng ở mức tỉ lệ điều chỉnh theo lạm phát là hơn 18% một năm, và chính sách ngoại giao được mở rộng không chỉ ở châu Á mà còn cả châu Phi, Mỹ Latinh và Trung Đông. Thực tế, nếu Liên Xô trước đây chỉ qua mặt Hoa Kỳ chỉ trên phương diện đối thủ cạnh tranh về quân sự, thì Trung Quốc đang nổi lên ở cả mặt quân sự và kinh tế - báo trước một sự chuyển đổi sâu sắc trong quá trình phân bổ quyền lực toàn cầu.

Quá độ quyền lực là một vấn đề có tính chất chu kỳ trong các mối quan hệ quốc tế. Như các học giả Paul Kennedy và Robert Gilpin từng mô tả, thì nền chính trị thế giới được đánh dấu bởi sự kế vị của các quốc gia quyền lực nổi lên để tổ chức hệ thống quốc tế. Một quốc gia quyền lực có thể tạo ra và thúc đẩy những quy tắc và thể chế của một trật tự toàn cầu ổn định nhằm theo đuổi lợi ích và an ninh của mình. Nhưng không gì có thể tồn tại mãi mãi: những thay đổi trong dài hạn của quá trình phân bổ quyền lực đem cơ hội đến cho những quốc gia thách thức mới – là những người châm ngòi cho cuộc chiến phá bỏ trật tự quốc tế đang tồn tại. Những quốc gia nổi lên muốn biến quyền lực mới giành được thành một thế lực mạnh hơn trong hệ thống toàn cầu, để “viết lại” những quy tắc và thể chế nhằm phục vụ lợi ích của riêng họ. Những quốc gia đang đi xuống, ngược lại, lại lo bị mất khả năng kiểm soát, và quan ngại về những nguy cơ an ninh bắt nguồn từ vị thế yếu kém của họ.

Những “giây phút chuyển đổi" này chứa đựng rất nhiều nguy hiểm. Khi một quốc gia chiếm giữ vị trí chỉ huy trong hệ thống quốc tế, thì bản thân quốc gia này hay những quốc gia yếu thế hơn đều không có động lực thay đổi trật tự đang tồn tại. Nhưng khi quyền lực của một quốc gia muốn thách thức cả thế giới ngày một lớn mạnh và quyền lực của quốc gia cầm đầu yếu đi, thì kéo theo đó là nguy cơ  một cuộc tranh giành quyền lực, thậm chí có thể dẫn tới chiến tranh. Sự nguy hiểm trong quá trình quá độ quyền lực xảy ra đột ngột nhất là trường hợp của Đức vào cuối thế kỷ 19. Năm 1870, Vương quốc Anh có lợi thế về sức mạnh kinh tế gấp ba lần Đức và một lợi thế đáng kể về quân đội; tới năm 1903, Đức đã vượt mặt Anh cả về sức mạnh kinh tế và quyền lực quân đội.

Khi Đức thống nhất và phát triển, quốc gia này dần thể hiện sự bất mãn và nhu cầu ngày càng lớn, và khi quốc gia này ngày càng phát triển cường thịnh hơn, nó ngày càng trở thành mối đe dọa đối với những cường quốc khác ở châu Âu, thì cạnh tranh an ninh bắt đầu. Trong quá trình thực hiện tái tổ chức chiến lược, Pháp, Nga và Anh, những địch thủ một thời, đã ngồi lại với nhau để cùng tìm cách đối phó lại một nước Đức đang nổi lên. Kết quả chính là cuộc chiến tranh châu Âu. Nhiều nhà quan sát đã thấy động lực tương tự nổi lên trong mối quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc. Học giả duy thực Jonh Mearsheimer đã viết: “Nếu Trung Quốc tiếp tục sự tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong một vài thập niên tới, Hoa Kỳ và Trung Quốc chắc chắn sẽ cùng tham gia vào một cuộc cạnh tranh an ninh khốc liệt với tiềm năng là một cuộc chiến tranh”.

Nhưng không phải tất cả các cuộc quá độ quyền lực đều có kết cục là chiến tranh hay phá bỏ trật tự cũ. Trong những thập kỷ đầu thế kỷ hai mươi, Vương quốc Anh đã nhường lại chủ quyền cho Hoa Kỳ mà không hề có xung đột lớn hay thậm chí một sự rạn nứt trong quan hệ. Từ cuối những năm 1940 đến đầu những năm 1990, kinh tế Nhật Bản tăng trưởng từ mức chỉ tương đương với 5% GDP của Hoa Kỳ tới mức tương đương hơn 60% GDP của Hoa Kỳ, nhưng Nhật Bản vẫn chưa bao giờ thách thức trật tự quốc tế đang tồn tại.

Rõ ràng là có rất nhiều loại hình quá độ quyền lực khác nhau. Một số quốc gia đã chứng kiến nền kinh tế và quyền lực địa chính trị của họ phát triển nhanh chóng và vẫn điều chỉnh bản thân cho phù hợp với trật tự đang tồn tại. Một số khác lại đang vươn lên và tìm cách thay đổi trật tự này. Một số quá trình quá độ quyền lực đã dẫn tới sự phá vỡ trật tự cũ và thiết lập lên một trật tự quốc tế mới. Những quốc gia còn lại chỉ đóng góp những điều chỉnh hạn chế vào hệ thống toàn cầu và khu vực.

Có rất nhiều nhân tố quyết định cách thức tiến hành chuyển giao quyền lực. Bản chất chế độ của quốc gia đang lên và mức độ bất mãn với trật tự cũ có tính chất quyết định: cuối thế kỷ 19, Hoa Kỳ, một quốc gia tự do, cách châu Âu một đại dương, có thể đi theo trật tự quốc tế lấy Anh quốc làm trọng tâm tốt hơn Đức. Nhưng điều quyết định hơn cả chính  là đặc tính của bản thân trật tự quốc tế - vì chính bản chất của trật tự quốc tế sẽ quyết định sự lựa chọn của một quốc gia đang lên giữa thách thức trật tự đó và hội nhập với nó.

Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Bạc Hy Lai (phải) bắt tay Cao ủy Thương mại của EU Peter Mandelson tại lễ ký Thỏa thuận thương mại may mặc Trung Quốc - EU ở Thượng Hải tháng 6/2005: Trung Quốc cũng đang trở thành đối tác quan trọng của châu Âu. Ảnh: AP/Tân Hoa xã

MỘT TRẬT TỰ MỞ

Về mặt lịch sử, trật tự phương Tây thời hậu chiến là độc nhất vô nhị. Bất kỳ trật tự quốc tế nào do một quốc gia quyền lực nắm giữ đều dựa trên nền tảng là sự pha trộn giữa tình trạng bị ép buộc và sự nhất trí, nhưng trật tự do Hoa Kỳ đứng đầu là một trật tự đặc biệt ở chỗ nó mang tính chất tự do hoa hơn là cưỡng bức phải tuân theo – và vì vậy khả năng tiếp cận, tính xác thực và khả năng tồn tại lâu dài cũng đặc biệt. Các quy tắc và thể chế của trật tự này có nguồn gốc vững chắc và vì vậy được củng cố bởi các lực lượng toàn cầu của nền dân chủ và chủ nghĩa tư bản đang phát triển. Nó đang mở rộng với số lượng quốc gia tham gia rộng rãi và ngày càng mở rộng. Trật tự này có khả năng tạo ra tăng trưởng kinh tế và quyền lực cực kỳ lớn đồng thời cũng có dấu hiệu của sự gò bó – tất cả những đặc tính này khiến cho trật tự này khó bị phá vỡ và dễ gia nhập.

Mục đích rõ ràng của những kiến trúc sư sáng tạo ra trật tự Phương Tây trong những năm 1940 là làm cho trật tự này có tính hội nhập và mở rộng. Trước khi cuộc Chiến tranh lạnh chia thế giới thành những phe phái đua tranh, Franklin Roosevelt đã cố gắng tìm cách sáng tạo ra một hệ thống chung cho thế giới vận hành bằng sự hợp tác giữa các cường quốc, để tái thiết châu Âu bị chiến tranh tàn phá, hội nhập những quốc gia bại trận, và xây dựng lên những cơ chế hợp tác an ninh và tăng trưởng kinh tế mở rộng. Trên thực tế, chính Roosevelt là người đã hối thúc rằng - (đối lập với Winston Churchill) - Trung Quốc nên được kết nạp làm thành viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc. Vị đại sứ Australia ở Hoa Kỳ lúc đó đã viết trong nhật ký của ông sau chuyến thăm Roosevelt đầu tiên trong thời gian chiến tranh, “Ông ấy nói rằng ông đã thảo luận rất nhiều với Winston về Trung Quốc và rằng ông cảm thấy sự nhìn nhận của Winston về Trung Quốc đã bị tụt lùi 40 năm khi Winston tiếp tục coi người Trung Quốc là “tiền xu” và “những nhà buôn đồ sứ” và Roosevelt cảm thấy rằng lối nhìn nhận này là rất nguy hiểm. Ông muốn giữ Trung Quốc như một người bạn bởi trong khoảng thời gian 40 hay 50 năm, Trung Quốc có thể dễ dàng trở thành một cường quốc quân sự rất hùng mạnh”.

Trong nửa thế kỷ tiếp theo, Hoa Kỳ đã sử dụng hệ thống quy tắc và thể chế nó xây dựng lên một cách rất hiệu quả. Đông Đức đã xây dựng mối quan hệ với những người hàng xóm Tây Âu dân chủ thông qua Cộng đồng than và thép châu Âu (sau này là Cộng đồng châu Âu) và với Hoa Kỳ thông qua Hiệp ước an ninh Đại Tây Dương; Nhật Bản quan hệ với Hoa Kỳ thông qua hiệp hội đồng minh và mở rộng quan hệ kinh tế. Hội nghị Bretton Woods năm 1944 đã đưa ra những quy định về tiền tệ và thương mại thúc đẩy xu hướng mở cửa và sự thịnh vượng của nền kinh tế toàn cầu – một kết quả đáng kinh ngạc khi xét đến hậu quả của cuộc chiến tranh và sự xung đột về lợi ích giữa các cường quốc. Những cam kết ngoài lề giữa Hoa Kỳ, Tây Âu và Nhật Bản đã củng cố thêm xu hướng mở cửa và đặc tính đa phương của nền kinh tế thế giới thời kỳ hậu chiến. Sau khi cuộc Chiến tranh lạnh bắt đầu nổ ra, Kế hoạch Marshall tại châu Âu và hiệp ước an ninh năm 1951 giữa Hoa Kỳ và Nhật bản đã thúc đẩy hơn nữa sự hội nhập của các cường quốc trong trục liên minh Berlin – Tokyo - Roma vào trật tự phương Tây.

Có ba đặc điểm đặc biệt của trật tự phương Tây đã tạo nên thành công và sự trường tồn cho trật tự này.

Trước hết, không giống như những hệ thống cưỡng chế trước đây, trật tự phương Tây được xây dựng với những quy tắc và quy phạm không phân biệt đối xử và mở cửa thị trường, tạo điều kiện cho quá trình cất cánh của các quốc gia để nâng cao các mục tiêu chính trị và mở rộng kinh tế của các quốc gia này trong khuôn khổ của trật tự. Qua lịch sử, các trật tự quốc tế rất khác nhau xét về khía cạnh các lợi ích thực dụng được tạo ra một cách không cân xứng chỉ phục vụ cho quốc gia đi đầu hay lợi ích này được chia sẻ một cách rộng rãi. Trong hệ thống phương Tây, các rào cản gia nhập kinh tế rất thấp và các lợi ích tiềm năng rất cao. Trung Quốc đã khám phá ra rằng tạo lập thành quả kinh tế trên quy mô lớn là hoàn toàn có thể bằng cách vận hành trong hệ thống thị trường mở này.

Thứ hai là đặc tính lãnh đạo dựa trên mối quan hệ liên minh. Các trật tự trước đây đều có xu hướng bị thống trị bởi một cường quốc duy nhất. Những thành viên của trật tự phương Tây hiện thời bao gồm một khối liên minh các quốc gia xếp quanh Hoa Kỳ. Những quốc gia đi đầu này không phải lúc nào cũng thống nhất với nhau nhưng họ cùng tham gia vào một quá trình diễn tiến cho và nhận về mặt kinh tế, chính trị và an ninh. Sự quá độ về quyền lực điển hình thường thấy là cuộc chơi giữa hai quốc gia, một quốc gia đang lên và một bá chủ đang đi xuống, và trật tự sẽ đổ vỡ ngay khi sự cân bằng quyền lực chuyển đổi. Nhưng trong trật tự hiện thời, phần lớn hơn của các quốc gia tư bản dân chủ - và thành quả tích lũy của quyền lực địa chính trị - chuyển đổi sự cân bằng quyền lực theo lợi ích của trật tự.

Thứ ba, trật tự phương Tây thời hậu chiến có một hệ thống các quy tắc và thể chế đặc biệt dày đặc, hoàn thiện, và được thống nhất rộng rãi. Cho dù vẫn tồn tại khuyết điểm, nhưng trật tự này rõ ràng mở và có nguyên tắc hơn hẳn bất kỳ trật tự nào trước nó. Chủ quyền quốc gia và quy định pháp luật không chỉ là những quy phạm “cất giữ” trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Chúng là một phần trong lô-gic vận hành sâu xa của trật tự. Để đảm bảo điều này, những quy phạm này đang ngày càng được phát triển, và bản thân Hoa Kỳ đã tự ràng buộc theo luật pháp và thể chế quốc tế và chưa bao giờ tuân thủ đúng như ngày nay. Nhưng toàn thể hệ thống dày đặc với những thể chế và quy tắc đa phương – liên quan tới toàn cầu và khu vực, kinh tế, chính trị và an ninh. Đây là những mặt đại diện cho một trong những tiến bộ vượt bậc của kỷ nguyên hậu chiến. Chúng đã tạo ra nền tảng cho những mức độ hợp tác và chia sẻ quyền lực thống trị theo hệ thống toàn cầu chưa từng xảy ra trong lịch sử.

Những lợi thế khuyến khích mà những đặc điểm nổi bật trên tạo ra cho Trung Quốc để hội nhập với trật tự quốc tế tự do đã được bản chất thay đổi của môi trường kinh tế quốc tế củng cố thêm, đặc biệt là sự phụ thuộc lẫn nhau mới do công nghệ thúc đẩy. Những nhà lãnh đạo Trung Quốc nhìn xa trông rộng nhất hiểu rằng toàn cầu hóa đã làm thay đổi cuộc chơi và theo đó, Trung Quốc cần những đối tác hùng mạnh, thịnh vượng trên toàn thế giới. Theo tầm nhìn của Hoa Kỳ thì một nền kinh tế Trung Quốc khỏe mạnh là cần thiết cho Hoa Kỳ và phần còn lại của thế giới. Cuộc cách mạng công nghệ và kinh tế toàn cầu đã tạo ra một chuỗi lôgic các mối quan hệ kinh tế hoàn toàn khác biệt với những gì từng có trong quá khứ - làm cho lôgic chính trị và thể chế của trật tự hiện thời hùng mạnh hơn bao giờ hết.

(còn nữa)
G. John Ikenberry *
Tạp chí Foreign Affairs, Số 1/2 2008
Mai Hương dịch

* G. John Ikenberry là giáo sư về chính trị và các vấn đề quốc tế tại trường đại học Princeton và là tác giả của cuốn Sau chiến thắng: Thể chế, sự ràng buộc mang tính chiến lược, và sự tái thiết trật tự sau những cuộc chiến lớn.

Bài gốc: http://lanhdao.net/vn/tuduy/122967/index.aspx