NHÂN VẬT TRONG TUẦN Cập nhật lúc 04:37, Thứ bảy, 10/01/2009 (GMT+7)
Trải nghiệm quản lý của một "hiệu trưởng tây” ở Việt Nam
13:09, 11/7/2007 (GMT+7)

(Lanhdao.net) – Không khí nóng bỏng của một kỳ tuyển sinh đã qua. Nhưng năm học mới với những thấp thỏm mới lại đang bắt đầu, với cả người học, người dạy và người quản lý: học phí, tiền lương, chất lượng... Ngành giáo dục đang lần tìm những cách để tự chuyển mình, nhưng có một ví dụ về sự chuyển mình đang nằm ngay trong tay của những nhà quản lý Việt Nam.

Từng là đại sứ tại Việt Nam trong hơn 4 năm, đến năm 2002, ông Michael Mann lại trở lại Việt Nam để làm Tổng giám đốc của trường Đại học Công nghệ Hoàng gia Melbourne (RMIT) – một trong những ngôi trường danh tiếng của Australia (Úc).

Là người đã từng kinh qua nhiều công việc: nhà ngoại giao, nhà báo, và giờ là nhà quản lý trong một môi trường giáo dục, ông Michael Mann cho rằng để phát triển ngành giáo dục hay bất cứ ngành gì, điều quan trọng nhất là phải có những người cầm lái có kỹ năng. Nhưng kỹ năng đó là gì, và có nhất thiết là họ phải là chuyên gia trong lĩnh vực mà họ quản lý?

Dưới đây là những chia sẻ riêng của ông Michael Mann về công việc hiện tại với tư cách là Tổng giám đốc một trong những ngôi trường quốc tế thành công ở Việt Nam.


Chính phủ muốn những người Việt Nam tự gia tăng tính cạnh tranh

Tại sao chính phủ Việt Nam mời RMIT và tại sao RMIT lại chọn Việt Nam?

- Michael Mann: Câu chuyện bắt đầu vào đầu những năm 90 khi chính phủ Úc cung cấp học bổng cho Việt Nam. Nhiều người trong số họ đã học tại trường RMIT ở Melbourne. Sau đó, đến giữa những năm 90, chính phủ Việt Nam mời RMIT mở một chi nhánh đào tạo tại Việt Nam.

Có lẽ chính phủ Việt Nam muốn RMIT trở thành một ví dụ điển hình cho các trường đại học khác ở đây. Họ muốn người Việt Nam phải gia tăng tính cạnh tranh. Chính vì thế, tôi đã chứng kiến sự thay đổi nhất định tại một số trường đại học của Việt Nam. Họ đã tiến hành cải cách giống như cách của chúng tôi. Và đây là điều đáng mừng.

Còn về phần RMIT, có nhiều lý do mà RMIT muốn tới Việt Nam. Trước hết chúng tôi muốn giúp Việt Nam. Thứ hai, lãnh đạo RMIT cho đây là một cơ hội rất tốt để quốc tế hoá RMIT trong bối cảnh toàn cầu hoá.

Ngay từ đầu thập kỷ 90, Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu tìm kiếm cơ hội hợp tác với các trường đại học trên thế giới. Một trong những sự kiện quan trọng trong chặng đường đó là vào năm 1998, RMIT được Chính phủ Việt Nam mời hợp tác để xây dựng trường đại học 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Năm 2000, RMIT được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp giấy phép.

Để mở được trường tại Việt Nam, RMIT đã phải vay vốn tại Ngân hàng Thế giới. Trong lịch sử 50 năm của mình, đây là lần đầu tiên Ngân hàng Thế giới đầu tư vào một ngôi trường đại học hoàn toàn mới, bởi trước đó họ chỉ đầu tư để mở rộng trường mà thôi.

Tháng 4/2001, trường chính thức đi vào hoạt động, chỉ với 30 sinh viên. Sau 5 năm, số sinh viên tăng lên hơn 2500 và đến từ hơn 20 quốc gia trên thế giới.

Động lực cho việc mở cửa này có lẽ xuất phát từ vấn đề rất nóng bỏng hiện nay ở Việt Nam. Đó là chất lượng giáo dục. Theo ông có phải khoảng cách giữa kiến thức nhà trường và thực tế xã hội là tương đối xa?

- Tôi biết hiện nay có rất nhiều tranh cãi liên quan đến vấn đề này, nhưng anh thử đọc bất kỳ một tờ báo nào trên thế giới ở bất kỳ một quốc gia nào đi, anh sẽ thấy đầy rẫy những tiêu cực trong giáo dục ở Mỹ, Anh, Úc, Thái Lan hay Trung Quốc. Tuy Mỹ có nhiều trường nổi tiếng, nhưng trường kém chất lượng cũng rất nhiều.

Mô hình để nhảy vọt: Hãy coi sinh viên là khách hàng

Vậy giáo dục đại học Việt Nam cần có những bước phát triển như thế nào để có thể hòa nhập vào quá trình toàn cầu hóa mà ông nói?

- Điều đầu tiên mà tôi muốn đề cập tới là phải tạo điều kiện cho các giảng viên trẻ có thể phát triển chuyên môn của mình, có rất nhiều người giỏi nhưng lại bị giới hạn bởi truyền thống “cây đa cây đề” trong môi trường đại học.

Ông Michael Mann và cố GS.VS Nguyễn Văn Đạo
ngày 20/11/2006 tại TP.HCM.

Thứ hai, tôi muốn hỏi rằng, liệu ở Việt Nam có bao nhiêu hiệu trưởng đưa phiếu điều tra tới sinh viên và mong nhận được sự đóng góp thẳng thắn của họ? Trong khi đó, đây là một trong những hoạt động mà RMIT tiến hành rất thường xuyên. Chúng tôi gửi phiếu điều tra tới từng sinh viên về những điểm tốt và xấu của trường, những đề nghị giúp chúng tôi có thể tổ chức tốt hơn.

Đối với tôi, ở cương vị điều hành là hết sức quan trọng, vì qua đó tôi có thể biết được tình hình thực tiễn thay vì chỉ nghe những người ở xung quanh tôi ["tất cả mọi thứ đều tốt"…]. Không những thế, chúng tôi cũng gửi phiếu điều tra tới gia đình của sinh viên, muốn hỏi ý kiến họ về việc giáo dục con cái của họ, liệu họ có hài lòng với giáo dục hiện tại của chúng tôi? Liệu các ông/bà muốn tham gia vào giáo dục với chúng tôi hay không? Đây hoàn toàn là công việc của quản lý, hay nói một cách khác, đó là dân chủ hóa giáo dục.

Còn đối với sinh viên của RMIT, chúng tôi thật sự có mối quan hệ chặt chẽ. Nhân viên hết sức thân thiện với sinh viên, ngay cả bản thân tôi, tôi giao tiếp với sinh viên hàng ngày. Đối với chúng tôi, họ đúng là sinh viên ngồi trên ghế giảng đường, nhưng họ cũng là khách hàng và có quyền được đối xử như một khách hàng. Có thể nói giữa chúng tôi có một hợp đồng và nhiệm vụ. Và RMIT phải cung cấp dịch vụ đó cho sinh viên một cách tốt nhất, hiệu quả nhất.

Thử xem, số học sinh tốt nghiệp cấp 3 học đại học ở Hàn Quốc là hơn 80%, trong khi đó con số này ở Việt Nam khoảng 15%, và sẽ không thể có một nền kinh tế phát triển nếu con số này không đạt đến 35-40%. Và hơn nữa, số 35-40% sinh viên này phải được học những thứ mà nền kinh tế cần. Chính vì thế giáo dục đại học ở Việt Nam không những phải đẩy mạnh số lượng mà còn cả về chất lượng.

Sau khi tìm hiểu sinh viên của RMIT, chúng tôi thấy rằng kiến thức phổ thông của họ rất tốt tuy còn thiếu một khả năng quan trọng như làm việc tập thể, vượt lên trên những đặc tính cá nhân để hòa nhập và làm việc theo nhóm. Đây là điểm mà chúng tôi cần phải tập trung khuyến khích phát triển.

Người quản lý giáo dục – có nhất thiết phải là giáo sư?

Tháng 7/2002, ông Mann đảm nhận vị trí Chủ tịch sáng lập của Đại học RMIT Việt Nam. Trước đó, ông đã có hơn 4 năm làm Đại sứ Úc tại đây. Ông Mann khởi đầu sự nghiệp trong vai trò nhà báo của tờ Người Úc (The Australian) trước khi chuyển sang ngành ngoại giao.

Sau đó, trong vai trò nhà ngoại giao, ông đã tới Nhật, Campuchia, Italia, Trung Quốc, Indonesia, làm Tổng lãnh sự tại Thái Lan, Pháp và Đại sứ tại Lào. Trong quá trình nắm giữ vị trí này ở Lào và Việt Nam, ông đã giám sát việc xây dựng hai cây cầu bắc qua sông Mê Kông.

Ông Mann cũng được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc chịu trách nhiệm cho kênh truyền hình quốc tế ở Tập đoàn Truyền thông Úc ở Sydney vào năm 1994. Năm 1997, ông đảm nhận vị trí tương tự tại Seven Network.

* Tôi muốn quay trở lại về vấn đề quản lý giáo dục ở Việt Nam như ông đã đề cập ở trên, tôi chắc rằng Việt Nam sẽ còn phải học hỏi nhiều hơn nữa?

- Có một ảo tưởng lớn trên thế giới rằng: để đứng đầu một bệnh viện phải là một bác sỹ, đứng đầu một trường đại học phải là một giáo sư, hay đứng đầu một công ty kỹ thuật phải là một kỹ sư cực giỏi. Đây là một sự ảo tưởng!!! Thế các chuyên gia để làm gì?

Đứng đầu một bệnh viện không nhất thiết phải cầm dao mổ, đứng đầu trường đại học không cần phải đứng trên bục giảng. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh về kỹ năng quản lý, và kỹ năng này có thể đi từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác.

Người đứng đầu về giáo dục hiện nay ở Ngân hàng Thế giới đã từng là Thứ trưởng giáo dục ở New Zealand, trước đó ông quản lý một công ty xây dựng và tất nhiên ông không cần phải là một giáo sư.

Ngay bản thân tôi cũng đã làm việc ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau: quản lý một mạng lưới truyền thông, quản lý một đại sứ quán, quản lý một trường đại học. Và tôi thấy kỹ năng quản lý tương đối giống nhau: kỹ năng giao tiếp, tuyển chọn được người giỏi. Tôi luôn tỉnh dậy, tự nói với mình rằng liệu mình có thể làm gì tốt hơn ngày hôm nay.

Tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh vào việc quản lý là cần có một đội ngũ nhân viên giỏi, bạn cần có quyền thuê người và sa thải những ai không đủ trình độ.

* Ông vừa nói đến kỹ năng cần có chung của một người quản lý. Đó là tuyển chọn được người giỏi, bởi con người luôn là điều cốt lõi trong sự phát triển của một tổ chức. Như thế, đối với một trường đại học, việc xây dựng được một đội ngũ giảng viên giỏi là hết sức quan trọng. Quan điểm của ông về việc thu hút giảng viên là như thế nào?

- Quy tắc đầu tiên về luân thường đạo lý là bạn phải có lương để có thể sống được. Bạn không thể trả ít hơn mức người ta cần để sống. Nếu không, chắc chắn nó sẽ tạo ra vấn đề. Đây là quy luật đối với bất kỳ một quốc gia nào, hay ở lĩnh vực nào. Nếu bạn không đủ ăn hay chỗ ngủ thì chắc chắn sẽ có vấn đề. Chính vì vậy, rất nhiều người phải tìm đến các công việc khác để có thể tồn tại.

* Ông có thể nói thêm về quan điểm giáo dục-học cả đời của RMIT?

- Trước hết chỉ có những thằng ngốc mới nói rằng tôi đã học xong. Học tập là hoạt động con người tiếp thu cho đến khi tắt thở. Và trong quá trình đó, điều đặc biệt quan trọng là luôn phải cập nhật kiến thức mới.

Nếu tôi hỏi một người kỹ sư mà anh ta nói rằng anh ta tốt nghiệp xuất sắc năm 1950 thì chưa chắc tôi muốn anh ta xây nhà cho tôi. Tôi muốn một người kỹ sư luôn luôn cập nhật kỹ thuật mới nhất. Bởi thay vì sống trong hang, tôi muốn sống ở nhà cao tầng với những tiện nghi thuận tiện nhất.

Đầu tư cho giáo dục cũng giống như gửi tiền vào ngân hàng

Tổng giám đốc Michael Mann

Một trong những vấn đề nóng hiện nay ở Việt Nam liên quan đến chuyện học phí. Nếu so sánh số tiền học mà sinh viên RMIT phải đóng thì nó cao hơn rất nhiều so với mức thu nhập của người dân Việt Nam (học phí từ 7000-8000 USD/năm). Ông dựa vào những tiêu chí nào để đưa ra số tiền học phí đó?

- Trước hết chúng ta phải hiểu một điều rằng không có việc giáo dục miễn phí (một ai đó phải trả tiền: sinh viên, bố mẹ, người dân đóng thuế v.v…).

Còn chúng tôi dựa trên quan điểm rằng RMIT phải kiếm được 1 đô la lợi nhuận (tuy chúng tôi vẫn chưa thành công trong việc này), bởi vì nếu không có lợi nhuận chúng tôi sẽ chẳng thể nào tồn tại ở đây được. Không ai cho chúng tôi tiền để làm việc ở đây cả, kể cả chính phủ Úc, chính phủ Việt Nam hay Ngân hàng Thế giới.

Chúng ta phải thay đổi quan điểm rằng giáo dục không phải là chi phí mà là một sự đầu tư, như việc gửi tiền vào ngân hàng. Và thay vì ngân hàng thì ở đây là con người.

Thử nhìn vào mức thu nhập của sinh viên tốt nghiệp RMIT, bạn sẽ thấy có đáng đầu tư hay không? Bạn sẽ hái loại quả của cây mà bạn lựa chọn trồng ngày hôm nay.

Trên thực tế chúng tôi đã mang giáo dục của Úc tới Việt Nam với 1/3 chi phí cho cùng một sản phẩm. Như một chiếc xe Mercedes bán ở Úc là 100.000 đô la, chúng tôi mang chiếc xe như thế tới Việt Nam bán với giá 30.000 đô la, liệu bạn có thể nói nó đắt hay không?

Hà Anh
(thực hiện)