PHÍA SAU CHÍNH KHÁCH VIỆT NAM Cập nhật lúc 22:10, Thứ ba, 06/01/2009 (GMT+7)
Chuyện của nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Cao Sĩ Kiêm:
Phần 2: Nỗ lực cho thành công và thanh thản nhận thất bại
16:14, 12/9/2007 (GMT+7)
(Lanhdao.net) - Đứng trước tình trạng lạm phát phi mã trong giai đoạn cuối thập niên 1980, các nhà lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam đã quyết định chọn một giải pháp lạ nhưng sát với thực tế và hoàn cảnh đất nước, đồng thời nhất định không đổi tiền. Sau này nhìn lại, ông Kiêm gọi đó là cách “chống lạm phát theo kiểu Việt Nam".

Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Cao Sĩ Kiêm.
Ảnh: K.Minh

* Phần 1: Người "đặt cược" cả chức Thống đốc

Những nỗ lực không nước nào trên thế giới có

"Lúc đó, chúng ta không có buôn lậu. Mục đích của ta lúc ấy là: trong khi bản thân chưa thể tự sản xuất thì lấy hàng hoá bên ngoài vào để cân đối thị trường bên trong. Thế nên lúc đó ai có tiền, kể cả lao động đi công tác nước ngoài về, đều được cho phép nhập các mặt hàng như: vải vóc, thuốc men, xe cộ… ". Nhưng biện pháp này lại vô cùng nguy hiểm ở chỗ, nó có thể kiềm chế nền sản xuất trong nước.

Do vậy, để cân bằng lại thị trường sản xuất và thị trường tiền tệ, ngành ngân hàng cũng song song triển khai việc rút tiền về bằng cách nâng lãi suất tiết kiệm lên đến 12%/ tháng. Đây là bước đi mạo hiểm thứ hai vì “không có nước nào trên thế giới làm thế”. Sau đó, “tiền thu về, ngân hàng lại cho vay để thúc đẩy sản xuất. Cho vay với lãi suất thấp (lãi suất âm). Nhà nước bù phần chênh lệch”.

Với những cách làm táo bạo như thế, sau 5 năm, từ con số 700%, tình trạng lạm phát của Việt Nam trở về mức 3-4%/năm - mức trung bình của thế giới. Nền kinh tế bắt đầu hồi phục và đi lên. Sản xuất hàng hóa gia tăng. Ngân hàng bắt đầu tự điều chỉnh lại hoạt động và phát triển với một diện mạo mới.

Ông nhìn nhận: "Đó là thành công lớn đối với một đất nước có nền kinh tế vẫn còn trì trệ và mới hội nhập. Nhưng đây không phải là thành công của riêng ngành ngân hàng. Đất nước thoát khỏi khủng hoảng là do đường lối mở cửa và quyết tâm của các đồng chí lãnh đạo lúc đó. Những người như anh Mười (Tổng Bí thư Đỗ Mười), anh Kiệt (Thủ tướng Võ Văn Kiệt) có cái nhìn rất xa và sáng tạo trong quá trình hoạch định đường lối. Sự kiên quyết, sâu sát và liên tục động viên của những người chỉ huy ấy đã khuyến khích chúng tôi và tạo nên nền tảng cho những nỗ lực của cả ngành ngân hàng".

Ngoài những đóng góp đưa nền kinh tế Việt Nam thoát khỏi tình trạng lạm phát phi mã, ông cùng các cấp lãnh đạo Việt Nam lại tiếp tục triển khai các biện pháp mới, tạo dựng nền móng cho ngành tài chính-ngân hàng Việt Nam ngày nay. 

Thanh thản chấp nhận thất bại

Cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, đất nước chứng kiến một trong những vụ án kinh tế lớn nhất của thời kỳ đổi mới - cái giá phải trả cho những năm đầu thiếu kinh nghiệm và bước vào hội nhập: vụ án Tăng Minh Phụng.

Khi đó, vì không kiểm soát chặt việc cho vay và sử dụng vốn, gần 3.000 tỉ đồng của nhà nước bị cho vay đi và trở thành nợ quá hạn kéo dài. Ngoài Tăng Minh Phụng và các đồng sự, hàng chục quan chức của ngành ngân hàng đã phải ra hầu toà. Một trong số các án tử hình được tòa tuyên là dành cho ông Phạm Nhật Hồng - nguyên Phó Giám đốc Ngân hàng Công thương chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh.

Nhìn lại những năm tháng đánh dấu thất bại lớn nhất trong sự nghiệp lãnh đạo của mình, ông Cao Sĩ Kiêm trầm ngâm: “Bên cạnh những gì đã làm được, vẫn còn có những điều chưa thành công, hay có thể nói là thất bại. Đó chính là công tác quản lý, kiểm tra, giám sát và xử lý những vấn đề nảy sinh, các mặt trái trong hoạt động ngân hàng như: chi tiêu hay cho vay bừa bãi. Có những việc kiểm tra đến 12 lần nhưng cán bộ vẫn không phát hiện ra.

Ngoài trình độ của cán bộ quản lý, tinh thần làm việc kém quyết liệt, lý do còn là vì mình điều hành công việc chưa được sâu sát. Đấy cũng chính là nhược điểm lớn nhất trong cả quá trình lãnh đạo của tôi”.

Thế nên, năm 1997, với vai trò là người đứng đầu ngành ngân hàng, ông phải nhận kỷ luật cảnh cáo trước Đảng vì để xảy ra vụ việc Tăng Minh Phụng. Cũng trong năm đó, Quốc hội từ chối phê chuẩn việc ông tiếp tục có tên trong danh sách thành viên Chính phủ do Thủ tướng đệ trình.

“Khi đối diện với nó (vụ Tăng Minh Phụng), mình thấy, cho vay tư nhân là một chính sách đúng. Nhưng khi mình để nó vuột ra khỏi tầm tay, không kiểm soát được, để cho tư nhân làm liều thì là lỗi của mình. Mình phải chấp nhận điều đó. Thanh thản mà chấp nhận điều đó. Đó là cái giá cho sự phát triển của đất nước và cái giá cho trách nhiệm của mỗi cá nhân, trong đó mình là người đứng đầu”, ông Kiêm tâm sự.

Nhận kỷ luật, thôi chức Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ông chuyển sang làm Phó ban kinh tế Trung ương, tham gia Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Phó Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Chính sách Tiền tệ Quốc gia và thành viên Ủy ban Hợp tác Kinh tế Quốc tế.

Kinh qua cả những thành công và thất bại như vậy, ông cho rằng, mỗi nhà lãnh đạo phải có sự dũng cảm trước những biến cố lớn: Dũng cảm để dám đưa ra quyết định trước những áp lực và đòi hỏi của xã hội; dũng cảm lui bước về cho đất nước tiến xa hơn; dũng cảm chấp nhận và khẳng định rằng mình từng thất bại.

Nhìn lại con đường đi của cuộc đời, ông tự nhìn nhận mình là một người bình thường nhưng kiên trì và không ngừng nỗ lực. Sợi chỉ đỏ xuyên suốt sự nghiệp của ông - từ khi là một chuyên viên bình thường trong ngành tài chính cho đến thời điểm trở thống đốc ngân hàng - chính là không ngừng tự bồi luyện mình.

Mãi đến năm 1992 - khi còn đang bận bịu với công việc của một thống đốc - ông vẫn gắng tự học và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ. Đến năm 2007, sau khi đã nghỉ hưu, ông lại được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa XII, kiêm thêm chức Chủ tịch Hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. Đối với ông, tự học và bổ sung kiến thức mới dường như đã trở thành một bản năng sống, giúp ông bình thản trước những thách thức dành cho chính mình.

Ngô Chuyên