PHÍA SAU CHÍNH KHÁCH VIỆT NAM Cập nhật lúc 08:19, Thứ ba, 06/01/2009 (GMT+7)
Chuyện của nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Cao Sĩ Kiêm:
Phần 1: Người "đặt cược" cả chức Thống đốc
23:40, 9/9/2007 (GMT+7)
(Lanhdao.net) - Chọn nông nghiệp nhưng lại rẽ bước sang ngân hàng, vào thời điểm phải ra quyết định ấy, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Cao Sĩ Kiêm có lẽ đã không nghĩ rằng, mình sẽ trở thành một trong những người đưa nền tài chính đất nước vượt qua giai đoạn nguy nan.

Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Cao Sĩ Kiêm.
Ảnh: K.Minh

Hai lối rẽ cuộc đời

Năm 1959, khi cả nước đang bước vào cuộc chiến căng thẳng với đế quốc Mỹ, ông Cao Sĩ Kiêm vừa học hết lớp 7 (tương đương với lớp 9 bây giờ). Ở tuổi 18, ông quyết định "bỏ" nông nghiệp để bước vào ngân hàng. Sau một khóa đào tạo nghiệp vụ 6 tháng, ông trở thành viên chức ngành ngân hàng.

Vài nét về nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Cao Sĩ Kiêm:

Ngày sinh: 26/8/1941, tại Thái Bình.

1959: Học sơ cấp ngân hàng trong 6 tháng.

1959-1966: Công tác tại Bắc Kạn; vừa làm vừa học học bổ túc cấp 3, trung cấp ngân hàng, hàm thụ trung cấp, hàm thụ đại học và đại học ngân hàng.

Tháng 6/1966: Được chuyển về công tác tại ngân hàng Thái Bình.

Tháng 6/1977-1979: Phó Giám đốc ngân hàng Thái Bình. Trong thời gian này, ông được cử đi học Trường Nguyễn Ái Quốc.

1980-1982: Giám đốc Ngân hàng tỉnh Thái Bình.

1982-1986: Bí thư Huyện ủy huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

1986-1989: Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thái Bình.

1989-1997: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Từ 1992-1994: học tiến sĩ tại Đại học Kinh tế Quốc dân.

Từ 1997 - tháng 3/2007: Lần lượt nắm giữ các chức vụ: Phó ban kinh tế Trung ương, tham gia Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, Phó Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Chính sách Tiền tệ Quốc gia và thành viên Ủy ban Hợp tác Kinh tế Quốc tế.

Nghỉ hưu tháng 3/2007, hiện ông là Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam. Ông là đại biểu Quốc hội khóa XII.

Nhưng với lưng kiến thức quá eo hẹp, ông tự hiểu rằng, để làm được và làm tốt công việc, bản thân ông sẽ phải nỗ lực nhiều. Ông cứ âm thầm vừa làm vừa học bổ túc cấp 3, học hàm thụ trung cấp, hàm thụ đại học, đại học cho đến cả tiến sĩ.

Năm 1966, từ Bắc Kạn, ông được chuyển về công tác tại Thái Bình - quê hương ông. Làm việc trong ngành ngân hàng đến năm 1977, trên cương vị Phó Giám đốc ngân hàng tỉnh, ông được cử đi học trường Nguyễn Ái Quốc (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ngày nay). Hai năm sau, khi khóa học kết thúc, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc ngân hàng tỉnh và tham gia tỉnh uỷ rồi thường vụ tỉnh uỷ.

Những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, đất nước đã im tiếng bom đạn nhưng nền kinh tế từng gồng mình trong suốt 30 năm chiến tranh bắt đầu lâm vào tình trạng khó khăn, lạm phát. Tham gia thường vụ tỉnh uỷ, ông Cao Sĩ Kiêm được bổ nhiệm làm Bí thư huyện uỷ Thái Thuỵ - một huyện có nhiều khó khăn và yếu kém nhất tỉnh Thái Bình lúc bấy giờ.

Tạm xa lĩnh vực tài chính một thời gian, con đường ông đi rẽ sang một hướng khác. Ông phải đối mặt với những vấn đề mà không cuốn sách tài chính nào đề cập đến.

Thời điểm ông nhậm chức, vì được sáp nhập từ hai huyện khác nhau (2 huyện cũ là Thụy Anh và Thái Ninh, được sáp nhập năm 1969), nên Thái Thuỵ có nhiều khó khăn. Cái khó nhất mà ông không thể quên khi mới bắt đầu làm quản lý chính là "sự mất đoàn kết trong nội bộ lãnh đạo huyện”. Hơn nữa, khi ấy, dân tình đói kém, thậm chí, ở một số nơi, an ninh trật tự xã hội mất ổn định.

Ông nhớ lại: “Khi ấy tôi mới 41, 42 tuổi. Nếu xét nét ra, tôi làm trái nghề, trái chuyên môn. Thái Thuỵ lại là huyện khó nhất. Mấy ông bí thư huyện uỷ trước đó đều phải rút lui sớm hoặc thay đổi liên tục".

Nhưng khác với những vị tiền nhiệm, ông không những không phải rút lui sớm mà còn trụ lại thành công trên cương vị này tới hai nhiệm kỳ. Sự cẩn trọng, chi tiết và chu đáo của một chuyên gia tài chính đã giúp ông lấy được niềm tin của những người cộng sự.

Ông kể, bí quyết lãnh đạo của mình là phải biết lắng nghe. “Phải thật dân chủ. Phải hết sức lắng nghe, lắng nghe hết những ý kiến của những người muốn đóng góp. Chính điều ấy sẽ khiến tất cả mọi người cảm thấy mình có phần trong công cuộc lãnh đạo chung. Ai cũng sẽ thấy mình quan trọng. Và khi đã cùng đi chung một hướng, họ sẽ tạo ra sức mạnh”.

Và sức mạnh mà ông tạo ra đến từ những việc rất nhỏ: gắn bó với bà con, dần dần xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn kết. Từ đó, nền kinh tế của huyện bắt đầu khởi sắc. Từ vị trí cuối bảng, ông cùng bà con nông dân đã nỗ lực đưa nông nghiệp của huyện vươn lên hàng lên đứng thứ 3, thứ 4 trong tỉnh. Còn xuất khẩu và thủy sản đứng thứ nhất.

Với những gì làm được ở Thái Thuỵ, năm 1986, ông được bầu làm Bí thư tỉnh uỷ Thái Bình. Cũng trong năm 1986, theo Nghị quyết Trung ương khoá VI, ông tham gia Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng góp sức với nhân dân và những nhà lãnh đạo của đất nước biến công cuộc đổi mới thành hiện thực.

Đặt cược... chức Thống đốc cho lời hứa đẩy lùi lạm phát

Có kinh nghiệm quản lý trong lĩnh vực tài chính, có kinh nghiệm lãnh đạo chính trị, năm 1989, ông được bổ nhiệm làm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Thời điểm này, chủ trương đổi mới đã bắt đầu được nhân dân nhiệt tình đón nhận và thực thi.

Nhưng sau cả chục năm dài bao cấp, công cuộc đổi mới của cả một quốc gia không đơn giản như việc mở một cánh cửa trong nhà. Tỉ lệ lạm phát của Việt Nam thời điểm đó đứng ở mức 3 con số. Sản xuất trì trệ, hàng hoá thiếu thốn, tình hình tài chính đất nước rối loạn, cuộc sống của người dân bấp bênh vì khủng hoảng.

Ông Kiêm kể: “Lúc đó có ba nhiệm vụ nan giải được đặt ra. Một là đưa Việt Nam trở lại Ngân hàng Thế giới (World Bank). Hai là cải cách hệ thống ngân hàng và đẩy lùi tình trạng lạm phát. Ba là xây dựng một hệ thống ngân hàng cùng với các định chế tài chính song song với nó là các thị trường: thị trường liên ngân hàng, thị trường nội tệ, thị trường ngoại tệ”.

Thêm vào đó, tình hình chính trị - kinh tế thế giới lúc này cũng bắt đầu rơi vào tình trạng bất ổn. Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đang trên con đường tan rã. Những nhà lãnh đạo Việt Nam phải đối mặt với những thách thức chưa từng có trong lịch sử và trong kho kinh nghiệm chiến đấu của mình.

Nhưng chính lúc gian nan nhất, như ông tự nhìn nhận, lại là lúc, ông và những người đứng đầu các bộ ngành ở Việt Nam cùng chung vai hoạt động “sung” nhất, năng nổ nhất, táo bạo nhất và hiệu quả nhất.

Ông nói: “Trong cả cuộc đời làm lãnh đạo, có nhiều sự việc khiến tôi không thể quên. Nhưng có lẽ nhớ nhất vẫn là thời kỳ bắt đầu đổi mới hệ thống ngân hàng và chống lạm phát”.

Đó là những thời khắc đòi hỏi người đứng đầu phải có sự dũng cảm cao nhất trong mỗi bước đi, trong từng quyết định. Thách thức khả năng của chính mình, đứng trước Chính phủ, ông đã hứa: nếu như không đẩy lùi được lạm phát, ông sẽ xin từ chức. Với lời hứa ấy, ông buộc mình phải nỗ lực tối đa, bởi vận mệnh của ông cũng nằm trong vận mệnh của dân tộc.

Bắt tay vào nhiệm vụ, việc đầu tiên ông làm sau tuyên bố "đặt cược cả chức Thống đốc của mình" là lấy ý kiến của cấp dưới và của các đồng nghiệp. Ông kể lại: “Tôi làm một bảng hỏi, gồm mấy chục câu, đưa cho các cán bộ chủ chốt để họ bày tỏ quan điểm. Các câu hỏi tập trung vào việc họ nhận định tình hình ra sao. Và họ đã đưa ra rất nhiều vấn đề, rất nhiều sáng kiến”.

Tiếp tục, ông tập hợp lại toàn bộ những sáng kiến ấy, tổng hợp thành định hướng chung, trình lên lãnh đạo cấp cao, cùng bàn thảo, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, nghiên cứu tình hình thực tiễn Việt Nam, sau đó mới cùng nhau thực hiện. Đến bây giờ, sau khi khủng hoảng đã qua, nhìn nhận lại, ông vẫn thấy “đối với thế giới, biện pháp đẩy lùi lạm phát thời kỳ này của Việt Nam có kết quả với cách làm không giống với cách làm của nhiều nước”.

“Trên thế giới chống lạm phát thường theo 3 cách: một là đổi tiền, hai là đẩy mạnh sản xuất, tăng hàng hoá lên và ba là dùng công cụ rút tiền về thật nhanh… Hai biện pháp trên, trong hoàn cảnh của đất nước mình, chúng ta đều không đủ sức để thực hiện. Đổi tiền thì trước đó mình cũng đã làm hai lần, nhưng lần sau cùng không thành công, gây mất lòng tin trong nhân dân. Tăng hàng hoá trong khi sản xuất của mình đình trệ thì tăng bằng cách nào? Rút tiền về cũng phải rút thật khéo léo”.

Và những bộ óc của Việt Nam khi đó đã quyết định triển khai theo cách nào?

* Phần 2: Nỗ lực cho thành công và thanh thản nhận thất bại

Ngô Chuyên