CHUYÊN ĐỀ Cập nhật lúc 11:50, Thứ ba, 06/01/2009 (GMT+7)
Nguyễn Chí Thanh - Cứu tinh của Bình-Trị-Thiên
10:53, 9/5/2007 (GMT+7)

(Lanhdao.net) - Giống như nhiều nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong thế kỷ 20, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là người giàu bản lĩnh. Lịch sử đã thử thách ông không chỉ một lần và chưa lần nào ông bỏ cuộc. Dù khi Huế - mảnh đất quê hương ông - mất liên lạc với cách mạng cả nước năm 1942, hay khi mặt trận Bình-Trị-Thiên vỡ trước sức mạnh ban đầu của quân Pháp (1946-1947), mỗi quyết định của ông đều trở thành điểm tựa và kim chỉ nam cho cuộc chiến đấu của nhân dân.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (bên phải)
tại Đại hội Đảng bộ quân đội 1960

Cách mạng tháng 8 thành công mang lại quyền làm chủ thực sự cho người dân Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân bắt tay vào xây dựng một nhà nước của chính mình.

Nhưng tiếng súng ngưng chưa bao lâu thì thực dân Pháp đã đem quân trở lại, âm mưu tái chiếm Việt Nam. Tháng 9/1945, với sự trợ lực từ quân Anh, Pháp nhanh chóng chiếm Nam Bộ và chuẩn bị đưa quân ra toàn Việt Nam.

Ngày 19/12/1946, sau nhiều nỗ lực tìm kiếm một giải pháp hòa bình với Pháp, cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân Việt Nam bùng nổ.

Trên cương vị là Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên-Huế và từ năm 1948, Bí thư phân khu ủy Bình-Trị-Thiên, Nguyễn Chí Thanh đã đưa phong trào kháng chiến trong vùng vượt qua nhiều thách thức. Quân dân nơi đây mến phục và gọi ông là "linh hồn của cuộc kháng chiến Bình-Trị-Thiên".

Bình-Trị-Thiên lâm nguy

Ngày 19/12/1946, từ Hà Nội, kháng chiến chống Pháp nhanh chóng bùng nổ trên toàn quốc.

Trong thế trận của cả nước, nhiệm vụ của chiến khu 4 (khu vực Bắc Trung Bộ) được xác định là "tiến công vào lực lượng quân Pháp hiện đang đóng ở thành phố Vinh (Nghệ An) và thành phố Huế (Thừa Thiên-Huế). Một mặt bố trí lực lượng ở phía nam tỉnh Thừa Thiên, có nhiệm vụ ngăn chặn viện binh của địch từ Đà Nẵng ra Huế khi chiến sự bùng nổ".

Với sự tập trung của một số lượng khá lớn quân Pháp, Huế trở thành chiến trường trung tâm của mặt trận Bình-Trị-Thiên - cây cầu nối bắc nam Việt Nam, một khu vực chiến lược đối với cả ta và Pháp.

Cuộc chiến tại Huế bắt đầu lúc 2h30 phút ngày 20/12/1946 và kéo dài gần 2 tháng. Sau hơn 20 ngày đầu tiên nổ súng tấn công vào các vị trí đóng quân của địch, quân dân Thừa Thiên-Huế đã buộc địch phải co cụm cố thủ trong các trường dòng, viện dân biểu...

Tuy vậy, với âm mưu chiếm đóng khu vực Bình-Trị-Thiên làm bàn đạp tấn công các tỉnh phía bắc khu 4, Pháp phái quân tiếp viện đến giải vây và đẩy lùi quân kháng chiến ở Huế. Trước sức mạnh của quân địch, quân ta chỉ cầm cự được đến đầu tháng 3 rồi rút khỏi Huế bảo toàn lực lượng.

Thừa thế, quân Pháp tiến công mở rộng, đánh chiếm Thừa Thiên Huế và các tỉnh xung quanh. Vừa đánh, quân Pháp vừa thực hiện chiến thuật "vết dầu loang" - xây dựng đồn bốt, lập hội tề và mở các cuộc càn quét để kiểm soát các vùng chúng chiếm được. Càn quét, giết chóc, đốt phá, quân Pháp thực hiện tất cả các biện pháp để tróc rễ những đảng viên cộng sản bám trụ trong nhân dân, uy hiếp và tiêu diệt ý chí chiến đấu của nhân dân Huế nói riêng và mảnh đất miền trung nói chung.

Vì thế, sau khi mặt trận Huế vỡ, nhiều cơ quan đảng bộ trong tỉnh bị thiệt hại nghiêm trọng, như đảng bộ Phú Vang từ 193 đến thời điểm đó chỉ còn vẻn vẹn 23 đảng viên.

Còn các đơn vị bộ đội, sau khi rút khỏi thành phố Huế, do hoạt động khủng bố gắt gao của địch, cuộc sống của các đơn vị này cũng trở nên vô cùng khó khăn: ăn đói, mặc rách, rét mướt, bệnh tật. Tinh thần và tư tưởng của họ bị chao đảo, sức chiến đấu giảm sút nghiêm trọng.

Những cuộc truy lùng gắt gao và hành quyết dã man các đảng viên cộng sản, những cuộc càn quét liên miên của giặc Pháp, thêm vào đó là sự rút lui của quân đội, tất cả đã khiến nhân dân hoang mang. Không khí sợ hãi, lo âu bao trùm trong dân chúng.

Phong trào kháng chiến của Huế và cả khu vực Bình-Trị-Thiên chùn lại và vấp phải những khó khăn chồng chất. Không chỉ cần một ngọn lửa để giữ vững niềm tin, cuộc đấu tranh của nhân dân Huế còn cần có một lối đi mới, thích hợp với tình hình hiện tại.

Lấy tiếng súng mang lại niềm tin cho nhân dân

Trên cương vị Bí thư tỉnh uỷ Thừa Thiên-Huế, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã cho triệu tập gấp một hội nghị các cán bộ đảng tỉnh Thừa Thiên. Hội nghị diễn ra tại thôn Nam Dương (huyện Quảng Điền) vào ngày 25/3, tức là chỉ hơn nửa tháng kể từ sau khi quân ta rút khỏi nội thành Huế và 9 ngày sau khi quân Pháp hoàn toàn chiếm được Huế.

Đây không chỉ đơn thuần là một hội nghị kiểm điểm mà còn là một hội nghị xốc lại tinh thần các cán bộ đảng viên, bộ đội và rọi ánh sáng vào công cuộc đấu tranh đang bế tắc của nhân dân Thừa Thiên-Huế. Điều này ít nhiều cho thấy sự sắc bén và nhạy cảm đối với những thay đổi của tình thế trong tư duy của Nguyễn Chí Thanh. 

Những chủ trương được đưa ra trong hội nghị là một kế hoạch toàn diện, điểm trúng những vấn đề cuộc đấu tranh đang vướng phải. Trước hết, để tìm lại niềm tin của nhân dân, phải tiếp tục kháng chiến, phá chính sách bình định của giặc, tiến hành trừ gian, phá tề. Để động viên, chấn chỉnh và phát triển quân đội phải khuyến khích nhân dân tăng gia sản xuất, cất dấu lương thực, canh gác để làm ăn và tiếp tế cho chiến khu. Và để xây dựng cơ sở vững chắc cho cuộc kháng chiến, cán bộ đảng viên phải củng cố, xây dựng lại cơ sở, đưa cán bộ đảng viên trở về địa phương để hoạt động, nắm quần chúng nhân dân, chấn chỉnh quân đội, dân quân tự vệ, chỉnh đốn các uỷ ban kháng chiến và kiện toàn sự lãnh đạo của Đảng.

Ngay sau khi hội nghị kết thúc, bước 1 của kế hoạch vực dậy phong trào đấu tranh trong tỉnh Thừa-Thiên-Huế được triển khai nhanh chóng.

Với khẩu hiệu "nổ lại tiếng súng kháng chiến mang lại tin tưởng cho đồng bào", các đơn vị bộ đội trong tỉnh được tỉnh uỷ Thừa Thiên-Huế giao nhiệm vụ tổ chức một số trận đánh để gây lại phong trào và xây dựng lòng tin trong quần chúng.

Bằng cách đánh bất ngờ, chỉ trong tháng 3/1947, các đơn vị bộ đội trong tỉnh đã hai lần chiến thắng quân Pháp tại Hộ Thành và đồn Đất Đỏ. Nổ ra sau hai chiến thắng này, là hàng loạt những cuộc tấn công nhỏ của dân quân tự vệ khắp nơi trong tỉnh.

Từ tháng 7/1947 trở đi, phần lớn lực lượng vũ trang Thừa Thiên-Huế đã về hoạt động ở đồng bằng, từng bước xây dựng lại cơ sở kháng chiến, phát động phong trào chiến tranh du kích, giúp nhân dân sản xuất, tạo chuyển biến ở cơ sở, đem lại niềm tin cho nhân dân.

Lấy lại được sự tin tưởng của nhân dân, từ đây, cuộc kháng chiến của nhân dân Thừa Thiên-Huế có điều kiện đạt được những bước phát triển mới. Đầu năm 1948, đồng chí Nguyễn Chí Thanh được cử làm bí thư phân khu Bình-Trị-Thiên. Đây cũng là thời điểm, dưới sự chỉ đạo của ông, nhiều vùng hậu địch đã bị biến thành vùng kháng chiến của ta.

Xây phong trào kháng chiến trong lòng địch

Nhằm vực lại tinh thần cán bộ đảng trong hội nghị Nam Dương, Nguyễn Chí Thanh đã nhấn mạnh: "Mất đất chưa phải là mất nước" và ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập các cơ sở kháng chiến trong dân chúng thông qua việc thúc giục bộ đội và các cán bộ đảng viên "tranh thủ từng người, từng thôn. Chúng ta không để mất dân, chết cũng không rời cơ sở".

Ngay sau hội nghị Nam Dương, với định hướng đường lối rõ ràng, nhiều cán bộ đảng viên đã bất chấp nguy hiểm, vượt qua những hệ thống đồn bốt dày đặc của địch về cơ sở.

Thế nên, chỉ hơn 1 tháng sau khi bộ đội chủ lực rút khỏi Huế, phong trào kháng chiến được gây dựng trở lại. Đến đầu năm 1948, từ chỗ bị đánh bật khỏi cơ sở, các cán bộ đảng viên đã gây dựng và từng bước củng cố các uỷ ban hành chính kháng chiến, bám sát, chỉ đạo nhân dân sản xuất, phục vụ chiến đấu

Cùng với lực lượng cán bộ đảng viên, với phương châm: "Đánh địch để xây dựng cơ sở, xây dựng cơ sở làm chỗ dựa đánh địch", lực lượng vũ trang tỉnh Thừa Thiên đã tạo được sự phát triển mới trong phong trào toàn dân kháng chiến.

Bắt đầu từ tháng 7/1947, một số tiểu đoàn quân chính quy được phân tán thành những đơn vị nhỏ - còn được gọi là các "tiểu đội độc lập", thực hiện "quần chúng hóa" bám dân, bám địa bàn, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tác chiến liên tục, đánh vào các đồn bốt và ngăn chặn các cuộc càn quét của địch.

Ngoài sự hoạt động hiệu quả của các "tiểu đội độc lập", phong trào phá tề do trung ương phát động đầu năm 1948 cũng phát triển hết sức mạnh mẽ, đều khắp. Hệ thống nguỵ quyền cơ sở mất hiệu lực khiến cho địch không dám tiến hành kiểm soát và khống chế dân. Ở nhiều xã ngay trong vùng địch tạm chiếm, ngụy quyền tan dã. Nhân dân khắp nơi hưởng ứng, giúp đỡ kháng chiến.

Đến cuối năm 1949, cuộc kháng chiến của nhân dân Thừa Thiên-Huế nói riêng, Bình-Trị-Thiên chung đã đạt được khí thế mới: càng đánh cành mạnh như lời của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nối: "Bình-Trị-Thiên kháng chiến ngày càng vững mạnh lên, địch cũng phải công nhận."

Đến năm 1950, khi đồng chí Nguyễn Chí Thanh được điều về làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, chịu trách nhiệm chính về công tác tư tưởng trong quân đội, cuộc kháng chiến của nhân dân Bình-Trị-Thiên đã qua cơn nguy biến. Quyền chủ động trên chiến trường đã thuộc về tay quân dân ta.

Vực dậy cuộc kháng chiến của nhân dân Thừa Thiên-Huế nói riêng và Bình Trị-Thiên nói chung không phải là công lao được nhắc đến trước nhất mỗi khi người ta nói đến Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nhưng đó là một chiến công khắc họa rõ nét phong cách lãnh đạo của ông. Một phong cách bãn lĩnh, nhanh nhạy, tài năng và có tầm chiến lược sâu sắc.

Minh Chi