CHUYÊN ĐỀ Cập nhật lúc 17:40, Thứ ba, 06/01/2009 (GMT+7)
Võ Nguyên Giáp - Người mở đường cho chiến thắng Điện Biên Phủ
06:30, 7/5/2007 (GMT+7)

(Lanhdao.net) - Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam (1946-1954) nổ ra trong muôn vàn khó khăn: một bên là chính quyền... 1 tuổi bốn bề trong vòng vây và một bên là thực dân Pháp quân đông, vũ khí nhiều. Chưa khi nào, đất nước ở vào một tình thế khó khăn như thế. Tuy vậy, cùng với Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và quân dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng bước đưa kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Bài phân tích của Trung tướng - Phó giáo sư Nguyễn Đình Ước, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trên cương vị Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng năm 1967

Sau thắng lợi của Cách mạng tháng 8, chính quyền cách mạng non trẻ của Việt Nam phải đối phó với những thách thức tưởng chừng không thể vượt qua: nạn đói tràn lan, trình độ dân trí thấp, đến 95% dân số mù chữ và đặc biệt nguy hiểm là âm mưu tái chiếm của Pháp.

Với những nỗ lực chỉ đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự đồng lòng của nhân dân, nạn đói nhanh chóng bị dập tắt, chính quyền được củng cố thêm một bước.

Ngày 23/9/1945, quân Pháp quay trở lại chiếm Nam Bộ và tìm cách mở rộng chiến tranh ra khắp các vùng miền trên đất nước. Nguy cơ ngoại xâm đã hiện rõ. Vậy nên, song song với củng cố chính quyền, Đảng và nhà nước kêu gọi nhân dân hết mình chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc sớm muộn cũng sẽ xảy ra với thực dân Pháp.

Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đầu tiên của Việt Nam, ông Võ Nguyên Giáp chính là tổng chỉ huy cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954). Tài năng cá nhân của ông cộng với sự lãnh đạo tập thể của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là một trong những yếu tố làm lên thắng lợi cuối cùng của dân tộc Việt Nam trước thực dân Pháp, mà tiêu biểu là chiến thắng Điện Biên Phủ.

Dập tắt kế hoạch thắng chớp nhoáng của địch

Chưa khi nào thế trận địch mạnh, ta yếu lại rõ như lúc này: một chính quyền non trẻ với quân đội đơn sơ và người dân lại vừa thoát khỏi một nạn đói khủng khiếp phải đương đầu với một trong những tên đế quốc hùng mạnh nhất, có sự trợ giúp của các lực lượng bên ngoài.

Vận dụng những bài học lấy ít địch nhiều trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trong lịch sử của cha ông, ông và các nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến quyết định theo đuổi một cuộc chiến trường kỳ, vừa đánh vừa xây dựng, dần giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường, từ đó tiến lên tiêu diệt hoàn toàn ý chí xâm lược của quân địch.

Bước đầu tiên của kế hoạch này là phải phá cho được ý định tấn công nhanh, giành thắng lợi chớp nhoáng của địch, buộc địch phải chuyển sang cách đách lâu dài.

Đứng trên vị trí tổng chỉ huy cuộc chiến đấu, ông Võ Nguyên Giáp nhận định lực lượng vũ trang của ta đủ sức cầm cự với quân địch ở thủ đô trong một tháng. Trong khoảng thời gian đó, chính quyền trung ương sẽ rút ra khỏi Hà Nội, tránh thế mạnh ban đầu của địch. Cả nước bước vào kháng chiến.

Tối ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Cuộc kháng chiến bắt đầu bùng nổ từ các thành phố, thị xã ở bắc vĩ tuyến 16 có quân Pháp chiếm đóng. Tại Hà Nội - nơi đặt trụ sở của các cơ quan chính phủ, cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt. Không chỉ làm cho quân Pháp tổn thất nặng nề, quân dân Hà Nội đã cầm chân địch trong vòng hai tháng - gấp đôi thời gian dự kiến.

Dù cuối cùng quân ta vẫn phải rút khỏi các thành phố, thị xã nhưng đối với cuộc kháng chiến của ta, đây là một thắng lợi chiến lược hết sức quan trọng: cơ quan đầu não được bảo vệ toàn vẹn - trụ cột của cuộc kháng chiến được giữ vững.

Lớn mạnh trong vòng vây

Sau khi chính quyền trung ương rút khỏi đô thị, trong 5 năm, cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã diễn ra trong vòng vây của quân địch. Nhưng dưới sự chỉ đạo của đồng chí Võ Nguyên Giáp và Bộ tổng chỉ huy, đó không chỉ là 5 năm chúng ta cầm cự, mà đó còn là 5 năm chúng ta lớn mạnh dần trong vòng vây.

Bộ đội chủ lực được rèn luyện và trưởng thành hơn qua chiến đấu trong các chiến dịch Việt Bắc (1947), chiến dịch Nghĩa Lộ (tháng 3/1948), chiến dịch Yên Bình (tháng 6/1948), chiến dịch Lao-Hà (tháng 2/1949), chiến dịch Đông Bắc (từ tháng 3 đến tháng 5/1949).

Trong khi đó, một thế trận chiến tranh nhân dân được hình thành trên cả nước: ở cả vùng tự do, vùng giáp ranh lẫn vùng địch hậu. Trong các khu vực bị địch tạm chiếm, chiến tranh du kích được phát động triệt để. Bộ đội chủ lực cũng được phân tán thành các đại đội nhỏ về giúp dân gây dựng lực lượng vũ trang và cùng du kích chống càn.

Cùng với đấu tranh quân sự, tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn... đấu tranh chính trị của công nhân, học sinh, sinh viên diễn ra rất sôi nổi.

Với sự lớn mạnh của quân đội và một thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp trên cả nước, cuộc kháng chiến dần tìm lại được sức mạnh trong dân chúng dần trở nên vững chắc.

Giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường

Năm 1950 là thời điểm có tính bước ngoặt đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam.

Bắt đầu từ tháng 10/1949, tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến chuyển tác động tích cực đến cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, như: sự ra đời của nước CHND Trung Hoa (tháng 10/1949), các nước XHCN công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam (tháng 1/1950).

Nhận định đó là thời cơ để ta tự giải vây cho mình, tìm sự ủng hộ từ bạn bè quốc tế, Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định mở chiến dịch Biên giới. Với sự nghiên cứu tỉ mỉ và sự chỉ đạo sát sao của ông và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự giúp đỡ của cố vấn Trung Quốc, chiến dịch thắng lớn, Pháp phải rút khỏi 4 tỉnh lỵ và 114 cứ điểm, tạo ra bước phát triển mới cho cuộc kháng chiến.

Sau chiến dịch này, quân ta giành lại thế chủ động trên chiến trường và mở thêm một số chiến dịch tiêu diệt sinh lực địch mang tên Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hà Nam Ninh, Hoà Bình, Tây Bắc, Thượng Lào. Các chiến dịch này đều do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy (ông Võ Nguyên Giáp được phong Đại tướng năm 1948).

Trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, theo tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị và chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ đạo các chiến trường từ Nam Bộ khu 5, Tây Nguyên đến Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Bộ tiến công, phân tán đội quân cơ động của Pháp ra làm nhiều mảnh để ta tập trung lực lượng đánh nhiều đòn ở Tây Bắc.

Tỉnh táo và bản lĩnh

Sau chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, cục diện chiến trường ta và Pháp vào trong một trận quyết chiến chiến lược. Trong đó, Pháp chiến đấu dưới lá chắn của tập đoàn cứ điểm được coi là "bất khả chiến bại" Điện Biên Phủ.

Kế hoạch tiêu diệt cụm cứ điểm Điện Biên Phủ của ta ban đầu, được trù bị tiến hành ngay trong tháng 1/1954, với phương châm đánh nhanh thắng nhanh. Lý luận được đưa ra là: địch có 11 tiểu đoàn nhưng mới đóng thành tập đoàn cứ điểm nên công sự chưa vững chắc. Hơn nữa, lần này, ngoài một trung đoàn pháo 75 ly, lần đầu tiên quân ta có thêm một trung đoàn pháo 105 ly và một trung đoàn pháo cao xạ 37 ly. Những yếu tố đó có thể tạo thành một sức mạnh mới đánh sụp tập đoàn cứ điểm này trong thơi gian ngắn.

Ngoài ra, nếu tiêu diệt nhanh Điện Biên Phủ trước mùa mưa, ta sẽ không gặp phải những khó khăn trong công tác hậu cần. Công tác chuẩn bị đã sẵn sàng, chỉ chờ ngày nổ súng.

Tuy vậy, ngay sau đó, tình hình có nhiều biến đổi. Pháp tăng quân ở Điện Biên từ 11 lên 17, rồi 21 tiểu đoàn (cả công binh), củng cố công sự. Trong khi đó, quân ta đã kéo pháo vào, nhưng vẫn còn hai khẩu chưa tới trận địa. Công sự pháo chưa vững chắc, pháo lại không cơ động như các loại xe cơ giới.

Ngay trước ngày nổ súng, ông đã đề xuất thay đổi cách đánh: từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc thắng. Vì thế, thời gian tiến công được lùi lại tạo điều kiện cho việc chuẩn bị kỹ càng hơn. 61 km đường đã được làm để kéo pháo, củng cố công sự cho pháo, đào hệ thống giao thông hào và đặc biệt là tăng cường công tác hậu cần trên quy mô lớn. Ông cũng ra lệnh ngay cho Đại đoàn 308 rời trận địa bao vây Điện Biên Phủ sang Thượng Lào, tiến công địch, cô lập Điện Biên Phủ với quân Pháp ở Thượng Lào

Nhờ vào quyết định trong phút chót này của ông mà sau gần 2 tháng công kích Điện Biên Phủ (từ 13/3 đến 7/5/1954), chiến thắng thuộc về quân và dân ta. 21 tiểu đoàn quân viễn chinh Pháp bị tiêu diệt và gần 1 vạn tên địch bị bắt sống.

Chiến thắng ấy đã buộc Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán ở Geneve và đồng ý rút quân khỏi Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc.

Cùng với Điện Biên Phủ - chiến thắng lớn nhất của một nước thuộc địa trước đội quân viễn chinh thiện chiến của Pháp; đòn chí mạng vào hệ thống thực dân kiểu cũ, Võ Nguyên Giáp đã trở thành cái tên quen thuộc khi người dân thế giới nhắc đến Việt Nam.

Tài năng, cẩn trọng, tỉnh táo và có tinh thần cao trước Đảng và nhân dân chính là những phẩm chất giúp ông góp phần đưa cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam đến thắng lợi, đồng thời "hạ nốc ao" 7 viên tướng đầy kinh nghiệm của Pháp trong vòng 9 năm.

Trung tướng - PGS Nguyễn Đình Ước

* Vài nét về tác giả:

Trung tướng
Nguyễn Đình Ước.
Ảnh: VietNamNet

Trung tướng - PGS Nguyễn Đình Ước nguyên là Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Mam (1995-1999).

Trên cương vị là Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, ông đã có thời gian được mời giảng dạy về một số chuyên đề lịch sử Việt Nam tại Đại học Texas, Mỹ.