(Lanhdao.net) - “Tôi muốn cưỡi gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người”. Triệu Thị Trinh - người con gái khởi binh chống quân Ngô năm 248 đã nói như thế. Bà muốn nối tiếp nghĩa khí và tài trí của Hai Bà Trưng - những nữ tướng có nghệ thuật chỉ huy khiến quân đô hộ Hán khiếp hãi từ 2 thế kỷ trước đó.
|
Tranh vẽ Hai Bà Trưng cưỡi voi xung trận |
Năm 184 trước công nguyên, quân đội của Nam Việt Vũ Đế Triệu Đà bắt đầu cuộc chiến xâm lược vương quốc Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương. Sau nhiều lần thất bại trước sức mạnh và sự phòng thủ kiên cố của quân Âu Lạc, Triệu Đà thu quân, đưa con trai Trọng Thuỷ sang giả dàn hoà.
Chủ quan, mất cảnh giác trước địch, chẳng bao lâu sau, Triệu Đà đã tìm ra cách tiêu diệt quân An Dương Vương. Âu Lạc sa vào tay giặc, bắt đầu hơn 1000 năm người Việt phải chịu sự cai trị của các triều đại phương Bắc.
Nổ ra gần 200 năm sau sự thất bại của An Dương Vương, khởi nghĩa Mê Linh (40-43) không chỉ trở thành niềm kiêu hãnh của dân tộc Việt Nam mà dường như đã trở thành một câu chuyện cổ tích về những người phụ nữ, đặc biệt là hai vị thủ lĩnh phong trào: Hai Bà Trưng.
Thời thế tạo anh hùng
Năm 111 trước công nguyên, nhà Hán tiến chiếm Nam Việt và thay nhà Triệu cai trị Âu Lạc. Mọi chuyện bắt đầu thay đổi từ đây.
Nhà Hán triển khai các kế hoạch đồng hoá dân Việt: xoá bỏ mọi tục lệ, luật pháp của người Việt, bắt dân Việt tuân theo “lễ giáo” phương Bắc; đưa dân Hán sang sống xen kẽ với dân Việt; mở trường học dạy Nho giáo ở Mê Linh, Luy Lâu và Cửu Chân cho con cái các lạc hầu, lạc tướng, quan lang. Bằng những biện pháp ấy, người Hán hi vọng sẽ quy phục được tinh thần người Việt.
Đã mất đất nay còn có nguy cơ mất đi cả bản sắc dân tộc, người Việt lo lắng.
Nhưng người Hán không ngờ rằng công cuộc Hán hoá của họ đang khơi lên niềm căm giận đặc biệt từ phía những người phụ nữ dân tộc Việt. Ngoài mối thù của một người dân mất nước, sự áp đặt của những gì gọi là "tam tòng, tứ đức" đang khiến họ - những người phụ nữ vốn bao đời nay vẫn được quyền tham gia chuyện làng nước, được chủ động kết hôn, là một trong hai trụ cột của gia đình - nay đứng trước nguy cơ mất đi tiếng nói của chính mình và bị coi như những kẻ tiểu nhân, vô dụng
Bởi thế, khắp Giao Chỉ, phụ nữ Việt dựng cờ khởi nghĩa.
Hai Bà Trưng - Trưng Trắc, Trưng Nhị - sinh trưởng trong hoàn cảnh ấy. Hai người là con gái lạc tướng đất Mê Linh và Man Thiện phu nhân. Ngay từ nhỏ, hai bà đã được mẹ hướng theo sự nghiệp cứu nước. Được học tập võ nghệ, được tìm hiểu binh thư, học lịch sử lại tận mắt chứng kiến sự bạo ngược của quân đô hộ, lòng yêu nước và ước mong gây dựng lại cơ đồ của các vua Hùng lớn dân lên trong họ.
Thời thế đã khiến họ phải chứng tỏ rằng: bản lĩnh của nhi nữ không phải tầm thường. Và cũng chính thời thế đã đặt Hai Bà Trưng vào trung tâm của một cuộc chiến đấu với không ít những nữ chỉ huy tài ba. Dường như họ đang cần một ngọn cờ lãnh đạo để tụ lại thành một sức mạnh duy nhất.
Nghệ thuật tụ binh
Điểm thành công và vô cùng đặc sắc trong khởi nghĩa Mê Linh, hay nói đúng hơn là tài năng của Hai Bà Trưng, là việc kêu gọi và quy tụ được sự tham gia nhiệt thành của nữ giới: từ những đội quân nữ hàng vạn người, đến những vị nữ tướng tài ba thống lĩnh quân đội mà danh tiếng còn để mãi đến tận sau này.
Do vậy, quá trình tụ binh dưới cờ khởi nghĩa Mê Linh không chỉ đơn giản là một cuộc tập hợp lực lượng của các tầng lớp dân chúng, mà còn là sự quy tụ sức mạnh nữ giới.
Hầu như tất cả các trung tâm khởi nghĩa nằm dưới sự chỉ đạo của các nữ lưu bấy giờ ở Giao Chỉ đều nhất trí hoạt động đưới sự chỉ huy của Hai Bà Trưng. Từ nghĩa quân Thánh Thiên ở Yên Dũng (Bắc Giang); nghĩa quân Lê Chân ở An Biên (Hải Phòng); nghĩa quân Bát Nàn ở Duyên Hà (Thái Bình); nghĩa quân Nguyệt Thai, Nguyệt Độ ở Vũ Bản (Hà Nam) cho đến nghĩa quân của nàng Nội ở Bạch Hạc (Vĩnh Phú) hay nghĩa quân của bà Lê Thi Hoa tận Cửu Chân (Thanh Hoá). Điều đó cũng đồng nghĩa với việc, giờ đây, hai bà có thêm sự trợ giúp của tài năng, kinh nghiệm và uy tín từ những nữ tướng am tường chiến tranh du kích như Thánh Thiên và có tài tổ chức như Lê Chân.
Dưới sự chỉ đạo của Hai Bà Trưng, cuộc tụ binh độc nhất vô nhị giữa các nữ tướng này tạo ra một thế trận khởi nghĩa răng mắc khắp Giao Chỉ. Thánh Thiên chịu trách nhiệm mở rộng lực lượng và lãnh đạo nhân dân Yên Dũng (Bắc Giang); Lê Chân nhận nhiệm vụ phát triển lực lượng và mở rộng khu căn cứ ra toàn khu vực từ Kinh Môn, Đông Triều đến vùng ven biển Đông; Bát Nàn sẽ lập các đội dân binh vùng ven biển Thái Bình; hai chị em Nguyệt Thai, Nguyệt Độ lo tổ chức dân binh trong toàn huyện Vũ Bản; hai cô Quốc Nương và Vĩnh Tuy lãnh trách nhiệm xây dựng lực lượng ở Gia Lâm, Đông Anh; Nàng Nội sẽ lãnh đạo nhân dân khu Bạch Hạc; bà Lê Thị Hoa và các con trai sẽ chỉ huy cuộc khởi nghĩa của nhân dân quận Cửu Chân.
Sự hợp nhất giữa các trung tâm khởi nghĩa đã biến cuộc khởi nghĩa Mê Linh từ một cuộc khởi nghĩa cục bộ thành một cuộc khởi nghĩa có phạm vi hoạt động trên toàn Giao Chỉ. Đây chính là thế trận giúp khởi nghĩa Mê Linh giành thắng lợi chỉ sau một tháng khởi binh.
Với tài năng, uy tín và đặc biệt là cùng chung ước vọng gây dựng lại cơ đồ dân tộc, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị đã thuyết phục được gần 40 vị nữ tướng và trên 20 vị nam tướng chủ chốt cùng đứng dưới ngọn cờ khởi nghĩa Mê Linh.
Cùng với đó, hàng chục vạn người yêu nước tại các làng xã đã được kết nối lại chờ thời cơ đồng loạt nổi dậy. Họ sẽ là nguồn sức mạnh bổ trợ cho những đội nghĩa binh đang ẩn mình trên khắp các vùng đất Mê Linh, Chu Diên, Yên Dũng, Bắc Ninh, An Biên, Kinh Môn, Duyên Hà, Vũ Bản, Yên Nội và Nga Sơn.
Phương pháp "đồng khởi"
Khởi nghĩa Mê Linh là một trong những cuộc khởi nghĩa đầu tiên của nhân dân ta chống nạn Bắc thuộc. Điều đó đặt ra thử thách: những lãnh đạo nữ của phong trào phải tự mầy mò, tìm ra một phương pháp tiến hành khởi nghĩa sao cho hiệu quả nhất. Trước hết là việc tự tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ.
Dùng kế làm kiêu binh địch để đẩy nhanh thời cơ khởi nghĩa, sau cái chết của Thi Sách - chồng Trưng Trắc và cũng là một trong những người chỉ huy cuộc khởi nghĩa, bai bà quyết định án binh bất động để trấn an địch, khiến chúng thoả mãn với thành quả đàn áp cuộc khởi nghĩa mà chúng nghĩ Thi Sách là kẻ cầm đầu. Mùa xuân năm 40, quân Hán say sưa vui tết, thời cơ đã đến. Trưng Trắc phát lệnh khởi nghĩa:
“Một, xin rửa sạch quốc thù
Hai, xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba, kẻo oan ức lòng chồng
Bốn, xin vẻn vẹn sở công lênh này”.
Cuộc khởi nghĩa được tiến hành theo hai bước rõ ràng.
- Bước 1: nhân dân khắp nơi đồng loạt nổi dậy phối hợp cùng với nghĩa binh phá tan bộ máy thống trị ở các địa phương;
- Bước 2: các cánh quân cùng tiến về Luy Lâu đập tan trung tâm bộ máy cai trị của quân Hán ở Giao Chỉ.
Mỗi một vị chỉ huy theo lệnh, hiệu triệu nhân dân trong khu vực vùng nên khởi nghĩa, phối hợp nhịp nhàng với cuộc khởi nghĩa đang đồng loạt nổ ra ở khắp nơi, khiến quân giặc không kịp trở tay. Trưng Trắc và Trưng Nhị chỉ huy cuộc khởi nghĩa ở Mê Linh; Thánh Thiên lãnh đạo thành công cuộc nổi dậy ở huyện Yên Dũng rồi lan ra các huyện phía bắc; Lê Chân hoàn toàn làm chủ miền ven biển phía đông đến sát Thuận Thành; Bát Nàn tiêu diệt hoàn toàn ách đô hộ ở vùng Duyên Hà ven biển trong khi Nguyệt Thai, Nguyệt Độ đã làm chủ vùng Sơn Nam... Thắng lợi nhanh chóng lan ra cả nước.
Sử phong kiến Đông Hán chép về cuộc khởi nghĩa Mê Linh như sau: “Tất cả những người Man, người Lý (chỉ chung các thành phần dân tộc Việt Nam thời cổ) ở 4 quận Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân (Thanh-Nghệ-Tĩnh), Nhật Nam (Quảng Bình-Quảng Nam), Hợp Phố (Quảng Đông) đều nhất tề nổi dậy hưởng ứng”. Nghĩa binh kết hợp với sức mạnh của sự đoàn kết rộng khắp đã nhanh chóng quét sạch bộ máy thống trị của nhà Hán. Sử Đông Hán thú nhận: quan lại Đông Hán ở Giao Chỉ hoảng sợ, bỏ hết của cải, giấy tờ, ấn tín, chạy tháo thân về nước.
Còn “Đại Nam quốc sử diễn ca” ghi lại khí thế của một trong những đội nghĩa binh Hai Bà Trưng:
“Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên”.
Kết thúc bước một, từ phía tây, đạo quân của Trưng Trắc, Trưng Nhị, tiến đến Luy Lâu. Cùng lúc đó, đạo quân phía bắc của tướng tiên phong Thánh Thiên, đạo quân phía đông của tướng tiên phong Lê Chân và đạo quân phía nam của các tướng tiên phong Bát Nàn, Nguyệt Thai, Nguyệt Độ cũng nhằm hướng Luy Lâu thẳng tiến. 4 cánh quân từ 4 hướng, xiết chặt dần, tạo thành thế gọng kìm kẹp chặt trung tâm đầu não của bọn thống trị.
Cuộc khởi nghĩa thắng lợi, Trưng Trắc lên ngôi vua ở tuổi 26, lấy hiệu là Trưng Nữ Vương, đặt đô ở đất Mê Linh.
Nghĩa khí người thủ lĩnh
3 năm sau, quân Hán được chuẩn bị kĩ càng mới sang đàn án cuộc khởi nghĩa. Dù đã xếp trận, bố phòng nghiêm ngặt, nhưng quân của Trưng Nữ Vương vẫn không thể cự lại được sức mạnh của quân Hán. Sau trận thua ở Lãng Bạc, bị quân địch đuổi riết, bà chạy về sông Hát trầm mình tự vẫn.
Là một trong những cuộc khởi nghĩa đầu tiên của dân tộc chống nạn Bắc thuộc, dù không bảo vệ được thành quả của mình nhưng thắng lợi ban đầu cũng như vị trí tiên phong của khởi nghĩa Mê Linh đã để lại nhiều bài học cho các cuộc khởi nghĩa sau này, đặc biệt là những bài học về chuẩn bị khởi nghĩa và tiến hành khởi nghĩa.
Ngoài những lẽ đó, sự tham gia sâu rộng của nữ giới, đặc biệt trong các vị trí cấp cao dưới quyền tổng chỉ huy của Hai Bà Trưng đã khiến khởi nghĩa Mê Linh trở thành một sự kiện lịch sử vô cùng đặc biệt. Ở đó, hình tượng những người phụ nữ tài năng, mưu trí, thao lược, bất khuất và yêu quê hương tổ quốc mình đã trở nên bất tử.
Minh Chi
- APEC bổ nhiệm tân Chủ tịch Ủy ban kinh tế (25/09/2006)
- Mạng lưới lãnh đạo nữ trình 11 khuyến nghị lên lãnh đạo APEC (21/09/2006)
- Vườn ươm doanh nghiệp cần trở thành chính sách phát triển của APEC (21/09/2006)
- Nữ doanh nhân Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm lãnh đạo (21/09/2006)
- APEC mở rộng quan hệ với Cơ quan năng lượng quốc tế (21/09/2006)
- Nâng cao khả năng của các nữ doanh nhân APEC (20/09/2006)
- Chia sẻ kinh nghiệm trong Mạng lưới các nhà lãnh đạo nữ APEC (19/09/2006)
- APEC 2006 mở đầu cho sự cải cách của APEC (17/09/2006)
- APEC thông qua cơ chế một cửa điện tử (13/09/2006)
- Thông qua bản điều chỉnh về mua sắm của chính phủ trong APEC (09/09/2006)




